- Saṁyutta Nikāya 33.1
- 1. Vacchagottavagga
Bản dịch
SN 33.1 — Kinh Vô Minh Về Sắc
Rūpaaññāṇasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Rồi du sĩ ngoại đạo Vacchagota đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Vacchagota bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, này Tôn giả Gotama, một số tà kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn” hay “Thế giới là không thường còn”; hay “Thế giới hữu biên” hay “Thế giới vô biên”; hay “Sinh mạng và thân thể là một” hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
Vi-n 4 —Do vô tri đối với sắc, này Vaccha, do vô tri đối với sắc tập khởi, do vô tri đối với sắc đoạn diệt, do vô tri đối với con đường đưa đến sắc đoạn diệt, cho nên có những (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên đời: “Thế giới là thường còn” … hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Do nhân này, do duyên này, này Vaccha, có một số (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn” … hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 33.1
- 1. With Vacchagotta
Not Knowing Form
1. Kinh Vô Minh Về Sắc
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho vacchagotto paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then the wanderer Vacchagotta went up to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
607. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Bấy giờ, du sĩ Vacchagotta đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng với Đức Thế Tôn nói lời chào hỏi vui vẻ. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta bạch với Đức Thế Tôn lời này: “Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, mà những tà kiến đa dạng này lại khởi lên trong thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’, hay ‘Thế gian là không thường hằng’, hay ‘Thế gian là hữu biên’, hay ‘Thế gian là vô biên’, hay ‘Sinh mạng và thân thể là một’, hay ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác’, hay ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’, hay ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, hay ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hay ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’?” “Này Vaccha, chính do vô minh về sắc, vô minh về sự tập khởi của sắc, vô minh về sự đoạn diệt của sắc, vô minh về con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc; do vậy mà những tà kiến đa dạng này khởi lên trong thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’. Này Vaccha, đây chính là nhân, đây chính là duyên, mà những tà kiến đa dạng này khởi lên trong thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’, hay ‘Thế gian là không thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’.” (Kinh) thứ nhất.
“ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yānimāni anekavihitāni diṭṭhigatāni loke uppajjanti—
“What is the cause, worthy Gotama, what is the reason why these various misconceptions arise in the world? That is:
608. Nhân duyên ở Sāvatthī. Ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta bạch với Đức Thế Tôn lời này: “Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, mà những tà kiến đa dạng này lại khởi lên trong thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’, hay ‘Thế gian là không thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’?” “Này Vaccha, chính do vô minh về thọ, vô minh về sự tập khởi của thọ, vô minh về sự đoạn diệt của thọ, vô minh về con đường đưa đến sự đoạn diệt của thọ; do vậy mà những tà kiến đa dạng này khởi lên trong thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’, hay ‘Thế gian là không thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’. Này Vaccha, đây chính là nhân, đây chính là duyên, mà những tà kiến đa dạng này khởi lên trong thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’, hay ‘Thế gian là không thường hằng’... cho đến... ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’.” (Kinh) thứ hai.
“Rūpe kho, vaccha, aññāṇā, rūpasamudaye aññāṇā, rūpanirodhe aññāṇā, rūpanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇā; evamimāni anekavihitāni diṭṭhigatāni loke uppajjanti—sassato lokoti vā …pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vāti. Ayaṁ kho, vaccha, hetu, ayaṁ paccayo, yānimāni anekavihitāni diṭṭhigatāni loke uppajjanti—sassato lokoti vā, asassato lokoti vā …pe… neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā”ti.
Paṭhamaṁ.
“Vaccha, it is because of not knowing form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation that these various misconceptions arise in the world. This is the cause, this is the reason.”
661. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này Vaccha, do không trực nhận thức, do không trực nhận sự sanh khởi của thức, do không trực nhận sự đoạn diệt của thức, do không trực nhận con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức; như vậy, những tà kiến đa dạng này khởi sanh ở thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’ hoặc ‘Thế gian là không thường hằng’... ... ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’. Này Vaccha, đây là nhân, đây là duyên, do đó những tà kiến đa dạng này khởi sanh ở thế gian: ‘Thế gian là thường hằng’ hoặc ‘Thế gian là không thường hằng’, ‘Thế gian là hữu biên’ hoặc ‘Thế gian là vô biên’, ‘sinh mạng và thân thể là một’ hoặc ‘sinh mạng là khác, thân thể là khác’, ‘Như Lai tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’ hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’. Kinh thứ năm mươi lăm.