- Saṁyutta Nikāya 31.3
- 1. Gandhabbavagga
Bản dịch
SN 31.3 — Kinh Người Bố Thí Hương Rễ
Mūlagandhadātāsutta
Vi-n 1-4. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây có loại chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên trú hương rễ cây?
Vi-n 5 —Ở đây, này Tỷ-kheo, có loại chúng sanh làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời nói, làm thiện hạnh về ý. Họ được nghe như sau: “Chư Thiên thuộc loại Gandhabba trú hương rễ cây. Họ được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc”.
Vi-n 6 Họ suy nghĩ như sau: “Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với chư Thiên trú hương rễ cây!”
Họ bố thí hương rễ cây. Sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh cọng trú với chư Thiên trú hương rễ cây.
Vi-n 7 Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại (chúng sanh) được sanh cọng trú với chư Thiên trú hương rễ cây.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 31.3
- 1. Centaurs
A Giver of Fragrant Roots
3. Kinh Người Bố Thí Hương Rễ
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā mūlagandhe adhivatthānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena sucaritaṁ carati, vācāya sucaritaṁ carati, manasā sucaritaṁ carati. Tassa sutaṁ hoti: ‘mūlagandhe adhivatthā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā mūlagandhe adhivatthānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So dātā hoti mūlagandhānaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā mūlagandhe adhivatthānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu …pe… yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā mūlagandhe adhivatthānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Tatiyaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the gods who live in fragrant roots?”
“Mendicant, it’s when someone does good things by way of body, speech, and mind. And they’ve heard: ‘The gods who live in fragrant roots are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods who live in fragrant roots!’ They give gifts of fragrant roots. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods who live in fragrant roots. This is the cause, this is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the gods who live in fragrant roots.”
440. Nhân ở Sāvatthī. Vị Tỳ khưu ấy ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời trú ngụ ở hương rễ? – Này Tỳ khưu, ở đây có người thực hành thiện hạnh về thân, thực hành thiện hạnh về lời nói, thực hành thiện hạnh về ý. Vị ấy được nghe rằng: ‘Các vị trời trú ngụ ở hương rễ được sống lâu, có dung sắc, và nhiều an lạc.’ Vị ấy suy nghĩ rằng: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời trú ngụ ở hương rễ!’ Vị ấy là người bố thí các loại hương rễ. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời trú ngụ ở hương rễ. Này Tỳ khưu, đây là nhân... do đó ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời trú ngụ ở hương rễ. (Kinh) thứ ba.