- Saṁyutta Nikāya 31.2
- 1. Gandhabbavagga
Bản dịch
SN 31.2 — Kinh Thiện Hạnh
Sucaritasutta
Vi-n 1-3. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại Gandhabba?
Vi-n 5 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời nói, làm thiện hạnh về ý. Họ nghe nói như sau: “Chư Thiên thuộc loại Gandhabba được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc”.
Vi-n 6 Họ suy nghĩ như sau: “Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại Gandhabba!” Sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại Gandhabba.
Vi-n 7 Do nhân này, do duyên này, này các Tỷ-kheo, ở đây, có loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại Gandhabba.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 31.2
- 1. Centaurs
Good Conduct
2. Kinh Thiện Hạnh
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gandhabbakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena sucaritaṁ carati, vācāya sucaritaṁ carati, manasā sucaritaṁ carati. Tassa sutaṁ hoti: ‘gandhabbakāyikā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gandhabbakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gandhabbakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu, ayaṁ paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gandhabbakāyikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti.
Dutiyaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, that mendicant said to the Buddha:
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the gods of the centaur realm?”
“Mendicant, it’s when someone does good things by way of body, speech, and mind. And they’ve heard: ‘The gods of the centaur realm are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the gods of the centaur realm!’ When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the centaur realm. This is the cause, this is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the gods of the centaur realm.”
439. Nhân ở Sāvatthī. Vị Tỳ khưu ấy ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời thuộc chúng Càn-thát-bà? – Này Tỳ khưu, ở đây có người thực hành thiện hạnh về thân, thực hành thiện hạnh về lời nói, thực hành thiện hạnh về ý. Vị ấy được nghe rằng: ‘Các vị trời thuộc chúng Càn-thát-bà được sống lâu, có dung sắc, và nhiều an lạc.’ Vị ấy suy nghĩ rằng: ‘Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời thuộc chúng Càn-thát-bà!’ Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời thuộc chúng Càn-thát-bà. Này Tỳ khưu, đây là nhân, đây là duyên, do đó ở đây có người, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với các vị trời thuộc chúng Càn-thát-bà. (Kinh) thứ hai.