- Saṁyutta Nikāya 28.3
- 1. Sāriputtavagga
Pītisutta
Sāvatthinidānaṁ.
Addasā kho āyasmā ānando …pe…
“vippasannāni kho te, āvuso sāriputta, indriyāni; parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto. Katamenāyasmā sāriputto ajja vihārena vihāsī”ti?
Bản dịch
Pītisutta
Vi-n 1-5. Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthi …
Vi-n 6 Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ xa đi đến; sau khi thấy, liền nói với Tôn giả Sāriputta:
—Hiền giả Sāriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay Hiền giả an trú với sự an trú nào?
Vi-n 7-8. —Ở đây, này Hiền giả, ly hỷ và trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là: “Xả niệm lạc trú”, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ ba”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ ba”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ ba”.
—Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian … hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ ba”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthinidānaṁ.
Addasā kho āyasmā ānando …pe…
“vippasannāni kho te, āvuso sāriputta, indriyāni; parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto. Katamenāyasmā sāriputto ajja vihārena vihāsī”ti?
At Sāvatthī.
Venerable Ānanda saw Venerable Sāriputta and said to him:
“Reverend Sāriputta, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. What meditation were you practicing today?”
334. Nhân duyên ở Sāvatthī. Tôn giả Ānanda thấy... “Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật trong sáng; sắc mặt thanh tịnh, trong sạch. Hôm nay, tôn giả Sāriputta đã an trú bằng sự an trú nào vậy?”
“Idhāhaṁ, āvuso, pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsiṁ sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedemi; yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi. Tassa mayhaṁ, āvuso, na evaṁ hoti: ‘ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ tatiyā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā. Tasmā āyasmato sāriputtassa na evaṁ hoti: “‘ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ tatiyā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Tatiyaṁ.
“Reverend, with the fading away of rapture, I entered and remained in the third absorption, where I meditated with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ But it didn’t occur to me: ‘I am entering the third absorption’ or ‘I have entered the third absorption’ or ‘I am emerging from the third absorption’.”
“That must be because Venerable Sāriputta has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit. That’s why it didn’t occur to you: ‘I am entering the third absorption’ or ‘I have entered the third absorption’ or ‘I am emerging from the third absorption’.”
“Này hiền giả, ở đây, tôi ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Này hiền giả, đối với tôi, không có khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Tôi đang nhập thiền thứ ba’, hay ‘Tôi đã nhập thiền thứ ba’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi thiền thứ ba’.” “Sở dĩ như vậy là vì các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn của tôn giả Sāriputta đã được nhổ sạch từ lâu. Do đó, đối với tôn giả Sāriputta, không có khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Tôi đang nhập thiền thứ ba’, hay ‘Tôi đã nhập thiền thứ ba’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi thiền thứ ba’.” (Kinh) thứ ba.