- Saṁyutta Nikāya 28.4
- 1. Sāriputtavagga
Bản dịch
SN 28.4 — Kinh Xả
Upekkhāsutta
Vi-n 1-5. Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthi …
Vi-n 6 Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ xa đi đến … với sự an trú nào?
Vi-n 7 —Ở đây, này Hiền giả, xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ tư”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ tư”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ tư”.
Vi-n 8 —Như vậy, chắc chắn Hiền giả … hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ tư”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 28.4
- 1. With Sāriputta
Equanimity
4. Kinh Xả
Sāvatthinidānaṁ.
Addasā kho āyasmā ānando …pe…
“vippasannāni kho te, āvuso sāriputta, indriyāni; parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto. Katamenāyasmā sāriputto ajja vihārena vihāsī”ti?
At Sāvatthī.
Venerable Ānanda saw Venerable Sāriputta and said to him:
“Reverend Sāriputta, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. What meditation were you practicing today?”
335. Nhân duyên ở Sāvatthī. Tôn giả Ānanda thấy... “Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật trong sáng; sắc mặt thanh tịnh, trong sạch. Hôm nay, tôn giả Sāriputta đã an trú bằng sự an trú nào vậy?”
“Idhāhaṁ, āvuso, sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi. Tassa mayhaṁ, āvuso, na evaṁ hoti: ‘ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ catutthā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā. Tasmā āyasmato sāriputtassa na evaṁ hoti: “‘ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ catutthā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Catutthaṁ.
“Reverend, with the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, I entered and remained in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. But it didn’t occur to me: ‘I am entering the fourth absorption’ or ‘I have entered the fourth absorption’ or ‘I am emerging from the fourth absorption’.”
“That must be because Venerable Sāriputta has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit. That’s why it didn’t occur to you: ‘I am entering the fourth absorption’ or ‘I have entered the fourth absorption’ or ‘I am emerging from the fourth absorption’.”
“Này hiền giả, ở đây, tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này hiền giả, đối với tôi, không có khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Tôi đang nhập thiền thứ tư’, hay ‘Tôi đã nhập thiền thứ tư’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi thiền thứ tư’.” “Sở dĩ như vậy là vì các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn của tôn giả Sāriputta đã được nhổ sạch từ lâu. Do đó, đối với tôn giả Sāriputta, không có khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Tôi đang nhập thiền thứ tư’, hay ‘Tôi đã nhập thiền thứ tư’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi thiền thứ tư’.” (Kinh) thứ tư.