- Saṁyutta Nikāya 28.2
- 1. Sāriputtavagga
Bản dịch
SN 28.2 — Kinh Không Tầm
Avitakkasutta
Vi-n 1-5. Một thời Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthi …
Vi-n 6 Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ xa đi đến; sau khi thấy, liền nói với Tôn giả Sāriputta:
—Hiền giả Sāriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay Hiền giả an trú với sự an trú nào?
Vi-n 7 —Ở đây, này Hiền giả, làm cho lắng dịu tầm và tứ, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Tôi không có khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai”.
Vi-n 8 —Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài, đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn. Do vậy, Tôn giả Sāriputta không khởi lên ý nghĩ: “Tôi đang chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã chứng nhập Thiền thứ hai”, hay “Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 28.2
- 1. With Sāriputta
Without Placing the Mind
2. Kinh Không Tầm
Sāvatthinidānaṁ.
Addasā kho āyasmā ānando …pe… āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“vippasannāni kho te, āvuso sāriputta, indriyāni; parisuddho mukhavaṇṇo pariyodāto. Katamenāyasmā sāriputto ajja vihārena vihāsī”ti?
At Sāvatthī.
Venerable Ānanda saw Venerable Sāriputta and said to him:
“Reverend Sāriputta, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. What meditation were you practicing today?”
333. Nhân duyên ở Sāvatthī. Tôn giả Ānanda thấy... Tôn giả Sāriputta và nói như sau: “Này hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thật trong sáng; sắc mặt thanh tịnh, trong sạch. Hôm nay, tôn giả Sāriputta đã an trú bằng sự an trú nào vậy?”
“Idhāhaṁ, āvuso, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi. Tassa mayhaṁ, āvuso, na evaṁ hoti: ‘ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ dutiyā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Tathā hi panāyasmato sāriputtassa dīgharattaṁ ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā susamūhatā. Tasmā āyasmato sāriputtassa na evaṁ hoti: “‘ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpanno’ti vā ‘ahaṁ dutiyā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
Dutiyaṁ.
“Reverend, as the placing of the mind and keeping it connected were stilled, I entered and remained in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. But it didn’t occur to me: ‘I am entering the second absorption’ or ‘I have entered the second absorption’ or ‘I am emerging from the second absorption’.”
“That must be because Venerable Sāriputta has long ago totally eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit. That’s why it didn’t occur to you: ‘I am entering the second absorption’ or ‘I have entered the second absorption’ or ‘I am emerging from the second absorption’.”
“Này hiền giả, ở đây, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Này hiền giả, đối với tôi, không có khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Tôi đang nhập thiền thứ hai’, hay ‘Tôi đã nhập thiền thứ hai’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi thiền thứ hai’.” “Sở dĩ như vậy là vì các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn của tôn giả Sāriputta đã được nhổ sạch từ lâu. Do đó, đối với tôn giả Sāriputta, không có khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Tôi đang nhập thiền thứ hai’, hay ‘Tôi đã nhập thiền thứ hai’, hay ‘Tôi đã xuất khỏi thiền thứ hai’.” (Kinh) thứ hai.