- Saṁyutta Nikāya 24.10
- 1. Sotāpattivagga
Bản dịch
SN 24.10 — Kinh Về Tà Kiến Bất Thường
Asassatadiṭṭhisutta
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 24.10
- 1. Stream-Entry
The Cosmos is Not Eternal
10. Kinh Về Tà Kiến Bất Thường
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘asassato loko’”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“Rūpe kho, bhikkhave, sati …pe… viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante” …pe…
api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘asassato loko’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe…
api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘asassato loko’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise: ‘The cosmos is not eternal’?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“When form exists …” …
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would such a view arise?”
“No, sir.”
215. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các tỳ khưu, khi có cái gì, do chấp thủ cái gì, do bám víu vào cái gì mà tà kiến như vầy khởi lên: ‘Thế gian là không thường hằng’?” – “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là gốc rễ…” – “Này các tỳ khưu, khi có sắc… thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường…” nếu không chấp thủ vào nó, tà kiến như vầy có thể khởi lên chăng: ‘Thế gian là không thường hằng’? – “Bạch Thế Tôn, không thể được.” – “Cái được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét, cái ấy cũng là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường… nếu không chấp thủ vào nó, tà kiến như vầy có thể khởi lên chăng: ‘Thế gian là không thường hằng’?” – “Bạch Thế Tôn, không thể được.”
“Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imesu ca ṭhānesu kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhepissa kaṅkhā pahīnā hoti …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā hoti—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano”ti.
Dasamaṁ.
“When a noble disciple has given up doubt regarding these six grounds, and has given up doubt in suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation, they’re called a noble disciple who is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
“Này các tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử đã đoạn trừ được hoài nghi ở những điểm này, và hoài nghi về khổ cũng được đoạn trừ … hoài nghi về con đường đưa đến khổ diệt cũng được đoạn trừ – này các tỳ khưu, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử, bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ.” Kinh thứ mười.