- Saṁyutta Nikāya 24.9
- 1. Sotāpattivagga
Bản dịch
SN 24.9 — Kinh Thường Kiến
Sassatadiṭṭhisutta
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 24.9
- 1. Stream-Entry
The Cosmos is Eternal
9. Kinh Thường Kiến
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘sassato loko’”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“Rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘sassato loko’ti. Vedanāya sati …pe… saṅkhāresu sati … viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati: ‘sassato loko’ti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise: ‘The cosmos is eternal’?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises: ‘The cosmos is eternal.’ When feeling … perception … choices … consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, the view arises: ‘The cosmos is eternal.’
214. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, khi có cái gì, do chấp thủ cái gì, do bám víu vào cái gì mà tà kiến như sau khởi lên: ‘Thế giới là thường hằng’?” “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản ...” “Này các Tỳ khưu, khi có sắc, do chấp thủ sắc, do bám víu vào sắc mà tà kiến như sau khởi lên: ‘Thế giới là thường hằng.’ Khi có thọ ... cho đến ... khi có tưởng ... khi có các hành ... khi có thức, do chấp thủ thức, do bám víu vào thức mà tà kiến như sau khởi lên: ‘Thế giới là thường hằng.’”
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe… vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘sassato loko’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante …pe…
api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘sassato loko’”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya: ‘sassato loko’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would such a view arise?”
“No, sir.”
“Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” … có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ vào nó, tà kiến như vầy có thể khởi lên chăng: ‘Thế gian là thường hằng’? – “Bạch Thế Tôn, không thể được.” – “Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường … nếu không chấp thủ vào nó, tà kiến như vầy có thể khởi lên chăng: ‘Thế gian là thường hằng’?” – “Bạch Thế Tôn, không thể được.” – “Cái được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm ý suy xét, cái ấy cũng là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, nếu không chấp thủ vào nó, tà kiến như vầy có thể khởi lên chăng: ‘Thế gian là thường hằng’?” – “Bạch Thế Tôn, không thể được.”
“Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imesu ca ṭhānesu kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhepissa kaṅkhā pahīnā hoti …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā hoti—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano”ti.
Navamaṁ.
“When a noble disciple has given up doubt regarding these six grounds, and has given up doubt in suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation, they’re called a noble disciple who is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
“Này các tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử đã đoạn trừ được hoài nghi ở những điểm này, và hoài nghi về khổ cũng được đoạn trừ … hoài nghi về con đường đưa đến khổ diệt cũng được đoạn trừ – này các tỳ khưu, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử, bậc Dự lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn, hướng đến giác ngộ.” Kinh thứ chín.