- Saṁyutta Nikāya 22.99
- 10. Pupphavagga
Bản dịch
SN 22.99 — Kinh Gaddulabaddha
Gaddulabaddhasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Vô thỉ, này các Tỷ-kheo, là sự luân hồi này. Ðiểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.
Vi-n 4 Có thể có một thời, này các Tỷ kheo, biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn đi đến khô kiệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi.
Vi-n 5 Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, Sineru (Tu-di), Vua các núi, đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi!
Vi-n 6 Có thể có một thời, này các Tỷ-kheo, đại địa đi đến băng hoại, hoại diệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển luân hồi!
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu … không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã … quán thọ như là tự ngã … quán tưởng như là tự ngã … quán các hành như là tự ngã … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc … thọ … tưởng … các hành … Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc … thọ … tưởng … các hành … người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: “Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau”.
Vi-n 8 Nhưng bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, được thấy các bậc Thánh … khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã … không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc … thọ … tưởng … các hành … không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc … thọ … tưởng … các hành … thức; do không chạy vòng theo, chạy vòng tròn xung quanh thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói: “Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.99
- 10. Flowers
A Leash
7. Kinh Gaddulabaddha
Sāvatthinidānaṁ.
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ mahāsamuddo ussussati visussati na bhavati; na tvevāhaṁ, bhikkhave, avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.
Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ sineru pabbatarājā ḍayhati vinassati na bhavati; na tvevāhaṁ, bhikkhave, avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.
Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ mahāpathavī ḍayhati vinassati na bhavati; na tvevāhaṁ, bhikkhave, avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.
At Sāvatthī.
“Mendicants, this transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.
There comes a time when the ocean dries up and evaporates and is no more. But in any case, there is no making an end of suffering for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving, I say.
There comes a time when Sineru the king of mountains is burned up and destroyed, and is no more. But in any case, there is no making an end of suffering for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving, I say.
There comes a time when the great earth is burned up and destroyed, and is no more. But in any case, there is no making an end of suffering for sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving, I say.
99. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, vòng luân hồi này không có khởi điểm. Khởi điểm ban đầu không thể được biết đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị tham ái trói buộc, đang chạy quanh, đang luân hồi. Này các Tỳ khưu, có thời điểm khi đại dương khô cạn, cạn kiệt, không còn tồn tại; nhưng Ta không tuyên bố sự chấm dứt khổ đau cho các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị tham ái trói buộc, đang chạy quanh, đang luân hồi. Này các Tỳ khưu, có thời điểm khi vua núi Sineru bị thiêu rụi, bị hủy diệt, không còn tồn tại; nhưng Ta không tuyên bố sự chấm dứt khổ đau cho các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị tham ái trói buộc, đang chạy quanh, đang luân hồi. Này các Tỳ khưu, có thời điểm khi đại địa bị thiêu rụi, bị hủy diệt, không còn tồn tại; nhưng Ta không tuyên bố sự chấm dứt khổ đau cho các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị tham ái trói buộc, đang chạy quanh, đang luân hồi.
Seyyathāpi, bhikkhave, sā gaddulabaddho daḷhe khīle vā thambhe vā upanibaddho tameva khīlaṁ vā thambhaṁ vā anuparidhāvati anuparivattati;
evameva kho, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī …pe… sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati …pe…
Suppose a hound on a leash was tethered to a strong post or pillar. It would just keep running and circling around that post or pillar.
In the same way, take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in their teaching. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in their teaching. They regard form …
100. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, vòng luân hồi này không có khởi điểm. Khởi điểm ban đầu không thể được biết đối với các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị tham ái trói buộc, đang chạy quanh, đang luân hồi. Này các Tỳ khưu, ví như con chó bị buộc bằng dây da vào một cái cọc hay một cây cột vững chắc. Dù nó đi, nó cũng đi đến gần chính cái cọc hay cây cột ấy; dù nó đứng, nó cũng đứng gần chính cái cọc hay cây cột ấy; dù nó ngồi, nó cũng ngồi gần chính cái cọc hay cây cột ấy; dù nó nằm, nó cũng nằm gần chính cái cọc hay cây cột ấy. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, kẻ phàm phu vô văn xem sắc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’. Xem thọ... xem tưởng... xem các hành... xem thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’. Dù vị ấy đi, vị ấy cũng đi đến gần năm thủ uẩn này; dù vị ấy đứng, vị ấy cũng đứng gần năm thủ uẩn này; dù vị ấy ngồi, vị ấy cũng ngồi gần năm thủ uẩn này; dù vị ấy nằm, vị ấy cũng nằm gần năm thủ uẩn này. Do đó, này các Tỳ khưu, ở đây, cần phải thường xuyên quán xét tâm của mình: ‘Tâm này đã bị ô nhiễm trong một thời gian dài bởi tham, sân, và si’. Này các Tỳ khưu, do tâm ô nhiễm, chúng sanh bị ô nhiễm; do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh.
Này các Tỳ khưu, ví như con chó bị buộc bằng dây da vào một cái cọc hay một cây cột vững chắc, nó chỉ chạy vòng quanh, xoay vòng quanh chính cái cọc hay cây cột ấy. Tương tự như thế, này các Tỳ khưu, kẻ phàm phu vô văn, không thấy các bậc Thánh, ... (v.v.) ... không được rèn luyện trong Chánh pháp, xem sắc là tự ngã, ... (v.v.) ... xem thọ là tự ngã, ... xem tưởng là tự ngã, ... xem các hành là tự ngã, ... xem thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Vị ấy chỉ chạy vòng quanh, xoay vòng quanh chính sắc, chỉ chạy vòng quanh, xoay vòng quanh chính thọ, ... (v.v.) ... chính tưởng, ... chính các hành, ... chính thức. Vị ấy, trong khi chạy vòng quanh, xoay vòng quanh sắc, ... (v.v.) ... thọ, ... tưởng, ... các hành, ... thức, thì không được giải thoát khỏi sắc, không được giải thoát khỏi thọ, không được giải thoát khỏi tưởng, không được giải thoát khỏi các hành, không được giải thoát khỏi thức, không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: ‘Vị ấy không được giải thoát khỏi khổ đau’.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī …pe… sappurisadhamme suvinīto, na rūpaṁ attato samanupassati …pe… na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. So rūpaṁ nānuparidhāvati nānuparivattati, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ nānuparidhāvati nānuparivattati. So rūpaṁ ananuparidhāvaṁ ananuparivattaṁ, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ ananuparidhāvaṁ ananuparivattaṁ; parimuccati rūpamhā, parimuccati vedanāya, parimuccati saññāya, parimuccati saṅkhārehi, parimuccati viññāṇamhā, parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Parimuccati dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Sattamaṁ.
A learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form … feeling … perception … choices … or consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. They don’t keep running and circling around form, feeling, perception, choices, and consciousness. By not doing so, they’re freed from form, feeling, perception, choices, and consciousness. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.”
Còn này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử đa văn, thấy các bậc Thánh, ... (v.v.) ... được rèn luyện tốt trong Chánh pháp, không xem sắc là tự ngã, ... (v.v.) ... không xem thọ... không xem tưởng... không xem các hành... không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã có thức, không xem thức ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thức. Vị ấy không chạy vòng quanh, không xoay vòng quanh sắc, không chạy vòng quanh, không xoay vòng quanh thọ... tưởng... các hành... thức. Vị ấy, trong khi không chạy vòng quanh, không xoay vòng quanh sắc, ... (v.v.) ... thọ... tưởng... các hành... thức; được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: ‘Vị ấy được giải thoát khỏi khổ đau’.” Hết kinh thứ bảy.