- Saṁyutta Nikāya 22.9
- 1. Nakulapituvagga
Bản dịch
SN 22.9 — Kinh Vô Thường Trong Ba Thời
Kālattayaaniccasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không tiếc nuối (anapekkha), đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, thọ là vô thường …
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, tưởng là vô thường …
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường, trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với các hành quá khứ không tiếc nuối, đối với các hành vị lai không hoan hỷ, đối với các hành hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với thức quá khứ không tiếc nuối, đối với thức vị lai không hoan hỷ, đối với thức hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.9
- 1. Nakula’s Father
Impermanence in the Three Times
9. Kinh Vô Thường Trong Ba Thời
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ atītānāgataṁ; ko pana vādo paccuppannassa.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako atītasmiṁ rūpasmiṁ anapekkho hoti; anāgataṁ rūpaṁ nābhinandati; paccuppannassa rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Vedanā aniccā …pe…
saññā aniccā …
saṅkhārā aniccā atītānāgatā; ko pana vādo paccuppannānaṁ.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako atītesu saṅkhāresu anapekkho hoti; anāgate saṅkhāre nābhinandati; paccuppannānaṁ saṅkhārānaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti. Viññāṇaṁ aniccaṁ atītānāgataṁ; ko pana vādo paccuppannassa.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako atītasmiṁ viññāṇasmiṁ anapekkho hoti; anāgataṁ viññāṇaṁ nābhinandati; paccuppannassa viññāṇassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hotī”ti.
Navamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, form of the past and future is impermanent, let alone the present.
Seeing this, a learned noble disciple is not concerned with past form, doesn’t look forward to enjoying future form, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present form.
Feeling …
Perception …
Choices …
Consciousness of the past and future is impermanent, let alone the present.
Seeing this, a learned noble disciple is not concerned with past consciousness, doesn’t look forward to enjoying future consciousness, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present consciousness.”
9. Nhân ở Sāvatthī. “Này các Tỷ kheo, sắc quá khứ và vị lai là vô thường; nói gì đến sắc hiện tại! Thấy vậy, này các Tỷ kheo, vị Thánh đệ tử có nghe không luyến tiếc sắc quá khứ, không hoan hỷ sắc vị lai, thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại. Thọ là vô thường… (như trên)… Tưởng là vô thường… Các hành quá khứ và vị lai là vô thường; nói gì đến các hành hiện tại! Thấy vậy, này các Tỷ kheo, vị Thánh đệ tử có nghe không luyến tiếc các hành quá khứ, không hoan hỷ các hành vị lai, thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hành hiện tại. Thức quá khứ và vị lai là vô thường; nói gì đến thức hiện tại! Thấy vậy, này các Tỷ kheo, vị Thánh đệ tử có nghe không luyến tiếc thức quá khứ, không hoan hỷ thức vị lai, thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.”