- Saṁyutta Nikāya 22.82
- 8. Khajjanīyavagga
Bản dịch
SN 22.82 — Kinh Trăng Rằm
Puṇṇamasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Ðông Viên, Lộc Mẫu giảng đường, cùng với đại chúng Tỷ-kheo.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ Bố-tát, ngày rằm, đêm trăng tròn, giữa trời, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
Vi-n 3 Rồi có Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề, nếu Thế Tôn cho phép, và trả lời câu hỏi của con.
—Này Tỷ-kheo, hãy ngồi tại chỗ và hỏi theo ý Ông muốn.
Vi-n 4 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, ngồi tại chỗ ngồi của mình và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này: tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn?
—Này Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn … thức thủ uẩn.
Vi-n 5 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu khác:
—Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm căn bản?
—Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.
Vi-n 6 —Lành thay, bạch Thế Tôn …
—Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy là năm thủ uẩn ấy hay chấp thủ ngoài năm thủ uẩn?
—Này Tỷ-kheo, chấp thủ ấy không tức là năm thủ uẩn ấy và chấp thủ cũng không phải ngoài năm thủ uẩn. Nhưng chỗ nào có tham và dục, chỗ ấy có chấp thủ.
Vi-n 7 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:
—Có thể chăng, bạch Thế Tôn, trong năm thủ uẩn, có sự sai khác về dục và tham?
Thế Tôn đáp:
—Có thể có, này Tỷ-kheo.
Ở đây, này Tỷ-kheo, có người nghĩ như sau: “Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!” Như vậy, này Tỷ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.
Vi-n 8 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu hỏi nữa:
—Dưới hình thức nào, bạch Thế Tôn, có định nghĩa về uẩn của các uẩn?
—Phàm sắc gì, này Tỷ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì … Phàm tưởng gì … Phàm các hành gì … Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỷ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn.
Vi-n 9 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu hỏi nữa:
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, được gọi là sắc uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thọ uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là tưởng uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là hành uẩn? Do nhân gì, do duyên gì, được gọi là thức uẩn?
—Do nhân bốn đại, này Tỷ-kheo, do duyên bốn đại, được gọi là sắc uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là thọ uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là tưởng uẩn. Do nhân xúc, do duyên xúc, được gọi là hành uẩn. Do nhân danh sắc, do duyên danh sắc, được gọi là thức uẩn.
Vi-n 10 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu khác:
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, là có thân kiến?
—Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc … thọ … tưởng. Hành … quán thức như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là có thân kiến.
Vi-n 11 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm câu nữa:
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, là không có thân kiến?
—Ở đây, này Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không có thân kiến.
Vi-n 12 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy … hỏi thêm một câu nữa:
—Bạch Thế Tôn, cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của sắc? … của thọ … của tưởng … của các hành? Cái gì là vị ngọt, là sự nguy hiểm, là sự xuất ly của thức?
—Này Tỷ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ … Do duyên tưởng … Do duyên các hành … Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức.
Vi-n 13 —Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, lại hỏi Thế Tôn thêm câu nữa:
—Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, do thấy như thế nào, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên?
—Này Tỷ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi”. Phàm thọ gì … Phàm tưởng gì … Phàm các hành gì … Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, Tỷ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi!” Này Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (quan điểm): ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên.
Vi-n 14 Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: “Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?”
Vi-n 15 Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
—Sự kiện này xảy ra, này các Tỷ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: “Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ … tưởng … các hành … thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?” Này các Tỷ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17-19. —Thọ … tưởng … các hành …
Vi-n 20 Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Do vậy … thấy vậy … vị ấy biết: “Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.82
- 8. Bitable
A Full Moon Night
10. Kinh Trăng Rằm
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ. Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto ajjhokāse nisinno hoti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, together with a large Saṅgha of monks. Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks.
82. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra, cùng với đại chúng Tỳ khưu. Bấy giờ, vào đêm rằm, ngày Bố-tát, trăng tròn, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, có Tăng chúng Tỳ khưu vây quanh.
Atha kho aññataro bhikkhu uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“puccheyyāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ kiñcideva desaṁ, sace me bhagavā okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti?
“Tena hi tvaṁ, bhikkhu, sake āsane nisīditvā puccha yadākaṅkhasī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā sake āsane nisīditvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ime nu kho, bhante, pañcupādānakkhandhā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho”ti.
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā; Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho …pe… viññāṇupādānakkhandho”ti.
Then one of the monks rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said:
“Sir, I’d like to ask the Buddha about a certain point, if you’d take the time to answer.”
“Well then, monk, take your own seat and ask what you wish.”
“Yes, sir,” replied that monk. He took his seat and said to the Buddha:
“Sir, are these the five grasping aggregates, that is: form, feeling, perception, choices, and consciousness?”
“Yes, they are,” replied the Buddha.
Lúc bấy giờ, một Tỳ khưu đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vài điều, nếu Thế Tôn cho phép con được hỏi để giải đáp thắc mắc.’ – ‘Này Tỳ khưu, vậy thầy hãy ngồi xuống chỗ của mình và hỏi điều thầy muốn.’ – ‘Vâng, bạch Thế Tôn.’ Vị Tỳ khưu ấy vâng lời Thế Tôn, ngồi xuống chỗ của mình và bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, có phải đây là năm thủ uẩn, tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn không ạ?’
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
Saying “Good, sir”, that monk approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:
‘Này Tỳ khưu, đây chính là năm thủ uẩn, tức là: sắc thủ uẩn... (v.v.)... thức thủ uẩn.’ – ‘Lành thay, bạch Thế Tôn.’ Vị Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, rồi hỏi thêm Thế Tôn một câu hỏi khác:
“Ime kho pana, bhante, pañcupādānakkhandhā kiṁmūlakā”ti?
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā chandamūlakā”ti …pe… taññeva nu kho, bhante, upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā udāhu aññatra pañcahi upādānakkhandhehi upādānan”ti?
“Na kho, bhikkhu, taññeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā nāpi aññatra pañcahi upādānakkhandhehi upādānaṁ, api ca yo tattha chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“But sir, what is the root of these five grasping aggregates?”
“These five grasping aggregates are rooted in desire.” … “But sir, is that grasping the exact same thing as the five grasping aggregates? Or is grasping one thing and the five grasping aggregates another?”
“Neither. Rather, the desire and greed for them is the grasping there.”
Saying “Good, sir”, that monk asked another question:
‘Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm gốc rễ?’ – ‘Này Tỳ khưu, năm thủ uẩn này lấy dục làm gốc rễ.’ ... (v.v.)... ‘Bạch Thế Tôn, có phải chính sự chấp thủ là năm thủ uẩn, hay sự chấp thủ là khác với năm thủ uẩn?’ – ‘Này Tỳ khưu, không phải chính sự chấp thủ là năm thủ uẩn, cũng không phải sự chấp thủ là khác với năm thủ uẩn. Nhưng này Tỳ khưu, cái gì ở nơi đó là dục và tham, cái ấy ở nơi đó là sự chấp thủ.’ – ‘Lành thay, bạch Thế Tôn.’ Vị Tỳ khưu ấy... (v.v.)... hỏi thêm một câu hỏi khác:
“Siyā pana, bhante, pañcupādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
“idha, bhikkhu, ekaccassa evaṁ hoti: ‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti. Evaṁ kho, bhikkhu, siyā pañcupādānakkhandhesu chandarāgavemattatā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“But sir, can there be disparity in desire and greed for the five grasping aggregates?”
“There can,” said the Buddha.
“It’s when someone thinks: ‘In the future, may I be of such form, such feeling, such perception, such choices, and such consciousness!’ That’s how there can be disparity in desire and greed for the five grasping aggregates.”
Saying “Good, sir”, that monk asked another question:
‘Bạch Thế Tôn, có thể có sự khác biệt về dục và tham đối với năm thủ uẩn không?’ – ‘Có thể có, này Tỳ khưu,’ Thế Tôn đáp. ‘Ở đây, này Tỳ khưu, có người khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như thế này; mong rằng trong tương lai, ta sẽ có thọ như thế này; mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như thế này; mong rằng trong tương lai, ta sẽ có các hành như thế này; mong rằng trong tương lai, ta sẽ có thức như thế này.’ Này Tỳ khưu, như vậy, có thể có sự khác biệt về dục và tham đối với năm thủ uẩn.’ – ‘Lành thay, bạch Thế Tôn.’ Vị Tỳ khưu ấy... (v.v.)... hỏi thêm một câu hỏi khác:
“Kittāvatā nu kho, bhante, khandhānaṁ khandhādhivacanan”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, ayaṁ vuccati rūpakkhandho. Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, ayaṁ vuccati viññāṇakkhandho. Ettāvatā kho, bhikkhu, khandhānaṁ khandhādhivacanan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Sir, what is the scope of the term ‘aggregates’ as applied to the aggregates?”
“Any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of form. Any kind of feeling at all … Any kind of perception at all … Any kind of choices at all … Any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: this is called the aggregate of consciousness. That’s the scope of the term ‘aggregates’ as applied to the aggregates.”
Saying “Good, sir”, that monk asked another question:
"Bạch ngài, cho đến mức độ nào thì được gọi là định nghĩa về các uẩn của các uẩn?" "Này tỳ khưu, bất cứ sắc nào, hoặc quá khứ, vị lai, hay hiện tại, hoặc bên trong hay bên ngoài, hoặc thô hay tế, hoặc thấp kém hay cao thượng, hoặc xa hay gần, đây được gọi là sắc uẩn. Bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ hành nào... bất cứ thức nào, hoặc quá khứ, vị lai, hay hiện tại, hoặc bên trong hay bên ngoài, hoặc thô hay tế, hoặc thấp kém hay cao thượng, hoặc xa hay gần, đây được gọi là thức uẩn. Này tỳ khưu, chừng ấy là định nghĩa về các uẩn của các uẩn." "Lành thay, bạch ngài." Vị tỳ khưu ấy... v.v... đã hỏi --
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya; ko hetu ko paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya; ko hetu ko paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya; ko hetu ko paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya; ko hetu ko paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti?
“Cattāro kho, bhikkhu, mahābhūtā hetu, cattāro mahābhūtā paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya. Phasso hetu phasso paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya. Phasso hetu phasso paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya. Phasso hetu, phasso paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya. Nāmarūpaṁ hetu, nāmarūpaṁ paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“What is the cause, sir, what is the reason why the aggregate of form is found? What is the cause, what is the reason why the aggregate of feeling … perception … choices … consciousness is found?”
“The four principal states are the reason why the aggregate of form is found. Contact is the reason why the aggregates of feeling, perception, and choices are found. Name and form are the reasons why the aggregate of consciousness is found.”
Saying “Good, sir”, that monk asked another question:
"Bạch ngài, nhân nào, duyên nào để chế định sắc uẩn? Nhân nào, duyên nào để chế định thọ uẩn? Nhân nào, duyên nào để chế định tưởng uẩn? Nhân nào, duyên nào để chế định hành uẩn? Nhân nào, duyên nào để chế định thức uẩn?" "Này tỳ khưu, bốn đại là nhân, bốn đại là duyên để chế định sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên để chế định thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên để chế định tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên để chế định hành uẩn. Danh-sắc là nhân, danh-sắc là duyên để chế định thức uẩn." "Lành thay, bạch ngài." Vị tỳ khưu ấy... v.v... đã hỏi --
“Kathaṁ nu kho, bhante, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“Sir, how does substantialist view come about?”
“It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view comes about.”
Saying “Good, sir”, that monk … asked another question:
"Bạch ngài, làm thế nào thân kiến khởi lên?" "Này tỳ khưu, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục trong pháp của bậc Thánh, không được huấn luyện trong pháp của bậc Thánh; không thấy các bậc chân nhân, không thuần thục trong pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; quán thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Này tỳ khưu, như vậy là thân kiến khởi lên." "Lành thay, bạch ngài." Vị tỳ khưu ấy... v.v... đã hỏi --
“Kathaṁ pana, bhante, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ; na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā viññāṇaṁ, na viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Evaṁ kho, bhikkhu, sakkāyadiṭṭhi na hotī”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu …pe… apucchi:
“But sir, how does substantialist view not come about?”
“It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don’t regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That’s how substantialist view does not come about.”
Saying “Good, sir”, that monk … asked another question:
"Bạch ngài, làm thế nào thân kiến không khởi lên?" "Này tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, thấy các bậc Thánh, thuần thục trong pháp của bậc Thánh, được huấn luyện kỹ trong pháp của bậc Thánh; thấy các bậc chân nhân, thuần thục trong pháp của bậc chân nhân, được huấn luyện kỹ trong pháp của bậc chân nhân, không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã có sắc, không quán sắc ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã có thức, không quán thức ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong thức. Này tỳ khưu, như vậy là thân kiến không khởi lên." "Lành thay, bạch ngài." Vị tỳ khưu ấy... v.v... đã hỏi --
“Ko nu kho, bhante, rūpassa assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇaṁ; ko vedanāya … ko saññāya … ko saṅkhārānaṁ … ko viññāṇassa assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Yaṁ kho, bhikkhu, rūpaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ rūpassa assādo. Yaṁ rūpaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ rūpassa ādīnavo. Yo rūpasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ rūpassa nissaraṇaṁ. Yaṁ vedanaṁ paṭicca … yaṁ saññaṁ paṭicca … ye saṅkhāre paṭicca … yaṁ viññāṇaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ viññāṇassa assādo. Yaṁ viññāṇaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ viññāṇassa ādīnavo. Yo viññāṇasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ viññāṇassa nissaraṇan”ti.
“Sādhu, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
“Sir, what’s the gratification, the drawback, and the escape when it comes to form, feeling, perception, choices, and consciousness?”
“The pleasure and happiness that arise from form: this is its gratification. That form is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for form: this is its escape. The pleasure and happiness that arise from feeling … perception … choices … consciousness: this is its gratification. That consciousness is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for consciousness: this is its escape.”
Saying “Good, sir”, that monk approved and agreed with what the Buddha said. Then he asked another question:
"Bạch ngài, thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là sự nguy hại, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là của thọ... thế nào là của tưởng... thế nào là của các hành... thế nào là vị ngọt của thức, thế nào là sự nguy hại, thế nào là sự xuất ly?" "Này tỳ khưu, lạc và hỷ khởi lên do duyên sắc – đây là vị ngọt của sắc. Sắc là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại – đây là sự nguy hại của sắc. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với sắc – đây là sự xuất ly khỏi sắc. Do duyên thọ... do duyên tưởng... do duyên các hành... do duyên thức, lạc và hỷ khởi lên – đây là vị ngọt của thức. Thức là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại – đây là sự nguy hại của thức. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với thức – đây là sự xuất ly khỏi thức." "Lành thay, bạch ngài." Vị tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, rồi hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác cao hơn --
“Kathaṁ nu kho, bhante, jānato, kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti?
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati. Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati. Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā na hontī”ti.
“Sir, how does one know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and externally for all signs?”
“One truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ One truly sees any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ That’s how to know and see so that there’s no I-making, mine-making, or underlying tendency to conceit for this conscious body and externally for all signs.”
"Bạch ngài, người biết như thế nào, thấy như thế nào thì các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn không khởi lên đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng bên ngoài?" "Này tỳ khưu, bất cứ sắc nào, hoặc quá khứ, vị lai, hay hiện tại, hoặc bên trong hay bên ngoài, hoặc thô hay tế, hoặc thấp kém hay cao thượng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy tất cả sắc bằng chánh trí tuệ như thật rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ hành nào... bất cứ thức nào, hoặc quá khứ, vị lai, hay hiện tại, hoặc bên trong hay bên ngoài, hoặc thô hay tế, hoặc thấp kém hay cao thượng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy tất cả thức bằng chánh trí tuệ như thật rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'. Này tỳ khưu, đối với người biết như vậy, thấy như vậy, các tùy miên về ngã chấp, ngã sở chấp, và mạn không khởi lên đối với thân có thức này và đối với tất cả các tướng bên ngoài."
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“iti kira bho rūpaṁ anattā, vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ anattā; anattakatāni kammāni kathamattānaṁ phusissantī”ti.
Now at that time one of the monks had the thought:
“So it seems, worthy sir, that form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. Then how will the deeds done by not-self affect the self?”
Vào lúc bấy giờ, một vị tỳ khưu nào đó có tư duy khởi lên trong tâm như vầy: 'Này các hiền hữu, nghe nói rằng sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã; vậy thì các nghiệp được tạo tác bởi cái vô ngã làm sao có thể chạm đến cái ngã được?' Bấy giờ, Đức Thế Tôn, với tâm của mình, biết được tư duy trong tâm của vị tỳ khưu ấy, bèn gọi các vị tỳ khưu:
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā ceto parivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“Ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco moghapuriso avidvā avijjāgato taṇhādhipateyyena cetasā satthusāsanaṁ atidhāvitabbaṁ maññeyya. ‘Iti kira, bho, rūpaṁ anattā, vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ anattā. Anattakatāni kammāni kathamattānaṁ phusissantī’ti? Paṭipucchāvinītā kho me tumhe, bhikkhave, tatra tatra tesu tesu dhammesu.
Then the Buddha, knowing that monk’s train of thought, addressed the monks:
“It’s possible that some futile person here—unknowing and ignorant, his mind dominated by craving—thinks he can overstep the Teacher’s instructions. He thinks: ‘So it seems, worthy sir, that form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. Then how will the deeds done by not-self affect the self?’ Now, monks, you have been educated by me in questioning with regard to all these things in all such cases.
Này các Tỳ khưu, có trường hợp này, khi một kẻ trống rỗng nào đó ở đây, không có trí tuệ, bị vô minh bao phủ, với tâm bị ái dục chi phối, có thể nghĩ rằng nên vượt qua giáo pháp của Bậc Đạo Sư, (nghĩ rằng): 'Này các hiền hữu, nghe nói rằng sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã. Các nghiệp được tạo tác bởi cái vô ngã làm sao có thể chạm đến cái ngã được?' Này các Tỳ khưu, Ta đã huấn luyện các ngươi bằng cách hỏi đi hỏi lại về các pháp ấy ở chỗ này chỗ kia.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
Tasmātiha …pe… evaṁ passaṁ …pe… nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
What do you think, monks? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“So you should truly see … Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
Này các Tỳ khưu, các ngươi nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường? – Vô thường, bạch Thế Tôn. – Thọ... tưởng... các hành... thức là thường hay vô thường? – Vô thường, bạch Thế Tôn. – Cái gì vô thường, là khổ hay lạc? – Khổ, bạch Thế Tôn. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có thích hợp để quán xét rằng: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi' không? – Không, bạch Thế Tôn. Vì vậy ở đây... (v.v.)... Thấy như vậy... (v.v.)... vị ấy biết rõ: '... không còn gì phải làm nữa cho trạng thái này'.
“Dve khandhā taññeva siyaṁ, adhivacanañca hetunā; Sakkāyena duve vuttā, assādaviññāṇakena ca; Ete dasavidhā vuttā, hoti bhikkhu pucchāyā”ti.
Dasamaṁ.
“Two on the aggregates; exactly the same; <j>and can there be; on the term; and on the cause; two questions on substantial reality; gratification; and that with consciousness: these are the ten questions the monk came to ask.”
Hai kinh về uẩn, kinh Siyaṃ, Adhivacana và Hetu; Hai kinh được nói về Sakkāya, và kinh Assādaviññāṇaka; Mười loại này đã được nói, cùng với kinh Bhikkhupucchā. (Kinh thứ mười).
Khajjanīyavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Khajjanīya, thứ tám.
Assādo dve samudayā, arahantehi apare dve; Sīho khajjanī piṇḍolyaṁ, pālileyyena puṇṇamāti.
Kinh Assāda, hai kinh Samudaya, hai kinh khác về A-la-hán; kinh Sīha, Khajjanīya, Piṇḍolya, cùng với Pālileyya và Puṇṇamā.