- Saṁyutta Nikāya 22.81
- 8. Khajjanīyavagga
Bản dịch
SN 22.81 — Kinh Pālileyya
Pālileyyasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.
Vi-n 3 Rồi một Tỷ-kheo, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, liền đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, trong khi Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành; trong khi ấy, Thế Tôn ưa sống một mình; trong khi ấy, Thế Tôn không muốn ai đi theo Ngài.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn tuần tự du hành, đi đến Pālileyyaka. Tại đây, Thế Tôn trú ở Pālileyyaka, dưới gốc cây bhaddasàla.
Vi-n 6 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ānanda:
—Ðã lâu lắm, này Hiền giả Ānanda, chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Chúng tôi muốn, này Hiền giả Ānanda, được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Ānanda cùng với các Tỷ-kheo ấy đi đến Pālileyyaka, gốc cây bhaddasàla, chỗ Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho các Tỷ-kheo ấy, giảng giải, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Vi-n 10 Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo sanh khởi suy nghĩ như sau: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”
Vi-n 11 Thế Tôn với tâm của mình biết được suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, pháp đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn niệm xứ đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn chánh cần đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn như ý túc đã được giải thích, thuyết giảng. Năm căn đã được giải thích, thuyết giảng. Năm lực đã được giải thích, thuyết giảng. Bảy bồ-đề phần đã được giải thích, thuyết giảng. Thánh đạo Tám ngành đã được giải thích, thuyết giảng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp được Ta giải thích, thuyết giảng.
Vi-n 12 Dầu cho, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta giải thích, thuyết giảng như vậy, nhưng ở đây có Tỷ-kheo khởi lên suy nghĩ sau đây: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”
Vi-n 13-16. Này các Tỷ-kheo, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức? Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, sự quán như vầy là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Từ khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy … xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, do thấy vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 17 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã như là có sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 18 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, không quán tự ngã như là có sắc, nhưng có thể quán sắc ở trong tự ngã. Quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 19 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã ở trong sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 20-21. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, có thể không quán tự ngã ở trong sắc. Nhưng có thể quán thọ như là tự ngã, và có thể quán tự ngã như là có thọ, có thể quán thọ ở trong tự ngã, và có thể quán tự ngã ở trong thọ.
Vi-n 22-23... có thể quán tưởng … có thể quán các hành …
Vi-n 24 .. có thể quán thức như là tự ngã, có thể quán tự ngã như là có thức; có thể quán thức ở trong tự ngã; và có thể quán tự ngã ở trong thức. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 25 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; có thể không quán thọ như là tự ngã; có thể không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã. Nhưng có thể có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng thường kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi … Do biết như vậy, thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 26 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức là tự ngã; có thể không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng vị ấy có thể có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”.
Vi-n 27 Ðoạn kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Nhưng hành ấy, lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh khởi, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 28 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã … không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã … không quán tự ngã ở trong thức; không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết tôi sẽ thường còn, thườg hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”; có thể không có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Nhưng vị ấy có thể nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này.
Vi-n 29 Nhưng này các Tỷ-kheo, sự nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh.
Vi-n 30 Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.81
- 8. Bitable
At Pārileyyaka
9. Kinh Pālileyya
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kosambiṁ piṇḍāya pāvisi. Kosambiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkāmi.
At one time the Buddha was staying near Kosambī in Ghosita’s monastery.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kosambī for alms. After the meal, on his return from almsround, he set his lodgings in order himself. Taking his bowl and robe, without informing his supporters or taking leave of the mendicant Saṅgha, he set out to go wandering alone, with no companion.
81. Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambī, tại tu viện Ghosita. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, vào Kosambī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambī, dùng bữa xong, trở về từ nơi khất thực, ngài tự dọn dẹp chỗ ở, mang y bát, không gọi các thị giả, không báo cho Tăng chúng biết, một mình không có người thứ hai, ngài lên đường du hành.
Atha kho aññataro bhikkhu acirapakkantassa bhagavato yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca: “esāvuso ānanda, bhagavā sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkanto”ti. “Yasmiṁ, āvuso, samaye bhagavā sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkamati, ekova bhagavā tasmiṁ samaye viharitukāmo hoti; na bhagavā tasmiṁ samaye kenaci anubandhitabbo hotī”ti.
Then, not long after the Buddha had left, one of the mendicants went to Venerable Ānanda and told him what had happened. Ānanda said, “Reverend, when the Buddha leaves like this it means he wants to stay alone. At this time no one should follow him.”
Rồi một Tỳ khưu, không lâu sau khi Thế Tôn ra đi, đã đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, vị ấy nói với Tôn giả Ānanda điều này: ‘Này hiền giả Ānanda, Thế Tôn đã tự dọn dẹp chỗ ở, mang y bát, không gọi các thị giả, không báo cho Tăng chúng biết, một mình không có người thứ hai, đã lên đường du hành.’ – ‘Này hiền giả, vào lúc mà Thế Tôn tự dọn dẹp chỗ ở, mang y bát, không gọi các thị giả, không báo cho Tăng chúng biết, một mình không có người thứ hai, lên đường du hành, vào lúc ấy, Thế Tôn muốn sống một mình; vào lúc ấy, không ai nên đi theo Thế Tôn cả.’
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena pālileyyakaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā pālileyyake viharati bhaddasālamūle. Atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ: “cirassutā kho no, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammī kathā; icchāma mayaṁ, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ sotun”ti.
Then the Buddha, traveling stage by stage, arrived at Pārileyyaka, where he stayed at the root of a sacred sal tree. Then several mendicants went up to Venerable Ānanda and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him, “Reverend, it’s been a long time since we’ve heard a Dhamma talk from the Buddha. We wish to hear a Dhamma talk from the Buddha.”
Rồi Thế Tôn, du hành tuần tự, đã đến Pālileyyaka. Ở đó, Thế Tôn trú tại Pālileyyaka, dưới gốc cây Bhaddasāla. Rồi nhiều Tỳ khưu đã đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ cùng Tôn giả Ānanda chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi vui vẻ, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ khưu ấy nói với Tôn giả Ānanda điều này: ‘Thưa hiền giả Ānanda, đã lâu rồi chúng tôi chưa được nghe pháp thoại trực tiếp từ Thế Tôn; thưa hiền giả Ānanda, chúng tôi mong muốn được nghe pháp thoại trực tiếp từ Thế Tôn.’
Atha kho āyasmā ānando tehi bhikkhūhi saddhiṁ yena pālileyyakaṁ bhaddasālamūlaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “kathaṁ nu kho jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti?
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā cetoparivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“vicayaso desito, bhikkhave, mayā dhammo; vicayaso desitā cattāro satipaṭṭhānā; vicayaso desitā cattāro sammappadhānā; vicayaso desitā cattāro iddhipādā; vicayaso desitāni pañcindriyāni; vicayaso desitāni pañca balāni; vicayaso desitā sattabojjhaṅgā; vicayaso desito ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Evaṁ vicayaso desito, bhikkhave, mayā dhammo. Evaṁ vicayaso desite kho, bhikkhave, mayā dhamme atha ca panidhekaccassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi: ‘kathaṁ nu kho jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī’ti?
Then Venerable Ānanda together with those mendicants went to Pārileyyaka to see the Buddha. They bowed and sat down to one side, and the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.
Now at that time one of the monks had the thought, “How do you know and see in order to end the defilements without delay?”
Then the Buddha, knowing that monk’s train of thought, addressed the mendicants:
“Mendicants, I’ve taught the Dhamma analytically. I’ve analytically taught the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path. That’s how I’ve taught the Dhamma analytically. Though I’ve taught the Dhamma analytically, still a certain mendicant present here has this thought: ‘How do you know and see in order to end the defilements without delay?’
Rồi Tôn giả Ānanda cùng với các Tỳ khưu ấy đã đến Pālileyyaka, đến gốc cây Bhaddasāla, nơi Thế Tôn đang ở; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi họ đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ các Tỳ khưu ấy bằng một bài pháp thoại. Lúc bấy giờ, một Tỳ khưu khởi lên suy nghĩ trong tâm như sau: ‘Làm thế nào người biết, làm thế nào người thấy để các lậu hoặc được đoạn tận ngay lập tức?’ Rồi Thế Tôn, với tâm của mình, biết được suy nghĩ trong tâm của Tỳ khưu ấy, bèn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta thuyết giảng có phân tích; bốn Niệm xứ đã được thuyết giảng có phân tích; bốn Chánh cần đã được thuyết giảng có phân tích; bốn Thần túc đã được thuyết giảng có phân tích; năm Căn đã được thuyết giảng có phân tích; năm Lực đã được thuyết giảng có phân tích; bảy Giác chi đã được thuyết giảng có phân tích; Thánh đạo Tám ngành đã được thuyết giảng có phân tích. Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta thuyết giảng có phân tích như vậy. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta thuyết giảng có phân tích như vậy, thế mà ở đây, một Tỳ khưu lại khởi lên suy nghĩ trong tâm như sau: ‘Làm thế nào người biết, làm thế nào người thấy để các lậu hoặc được đoạn tận ngay lập tức?’’
Kathañca, bhikkhave, jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti? Idha bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati. Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so. So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo? Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā; tatojo so saṅkhāro. Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Sāpi taṇhā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā. Sāpi vedanā, sopi phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā. Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati;
And how, mendicants, do you know and see in order to end the defilements without delay? Take an unlearned ordinary person who has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons.
They regard form as self. But that regarding is just a conditioned phenomenon. And what’s the source, origin, birthplace, and inception of that conditioned phenomenon? When an unlearned ordinary person is struck by feelings born of contact with ignorance, craving arises. That conditioned phenomenon is born from that. So that conditioned phenomenon is impermanent, conditioned, and dependently originated. And that craving, that feeling, that contact, and that ignorance are also impermanent, conditioned, and dependently originated. That’s how you should know and see in order to end the defilements without delay.
Perhaps they don’t regard form as self,
Này các Tỳ khưu, làm thế nào đối với người biết, người thấy, sự đoạn tận các lậu hoặc xảy ra không gián đoạn? Này các Tỳ khưu, ở đây, kẻ phàm phu vô văn, không thấy các bậc Thánh, không thông thạo Thánh pháp, không được huấn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thông thạo pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, quán sát sắc là tự ngã. Này các Tỳ khưu, sự quán sát ấy chính là hành. Và hành ấy có gì làm nhân? Có gì làm tập khởi? Có gì làm nguồn gốc? Có gì làm phát sanh? Này các Tỳ khưu, đối với kẻ phàm phu vô văn bị xúc chạm bởi cảm thọ sanh từ xúc đi kèm với vô minh, tham ái sanh khởi; hành ấy sanh từ đó. Này các Tỳ khưu, như vậy, hành ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Tham ái ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Cảm thọ ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Xúc ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Này các Tỳ khưu, chính do biết như vậy, thấy như vậy mà sự đoạn tận các lậu hoặc xảy ra không gián đoạn.
Vị ấy không quán sát sắc là tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã có sắc. Này các Tỳ khưu, sự quán sát ấy chính là hành. Và hành ấy có gì làm nhân? Có gì làm tập khởi? Có gì làm nguồn gốc? Có gì làm phát sanh? Này các Tỳ khưu, đối với kẻ phàm phu vô văn bị xúc chạm bởi cảm thọ sanh từ xúc đi kèm với vô minh, tham ái sanh khởi; hành ấy sanh từ đó. Này các Tỳ khưu, như vậy, hành ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Tham ái ấy cũng... cảm thọ ấy cũng... xúc ấy cũng... vô minh ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Này các Tỳ khưu, chính do biết như vậy, thấy như vậy mà sự đoạn tận các lậu hoặc xảy ra không gián đoạn.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati; api ca kho attani rūpaṁ samanupassati. Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so. So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo? Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā; tatojo so saṅkhāro. Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Sāpi taṇhā … sāpi vedanā … sopi phasso … sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā. Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Perhaps they don’t regard form as self, or self as possessing form, but they still regard form in self. But that regarding is just a conditioned phenomenon. …
Vị ấy không quán sát sắc là tự ngã, không quán sát tự ngã có sắc; tuy nhiên, vị ấy quán sát sắc ở trong tự ngã. Này các Tỳ khưu, sự quán sát ấy chính là hành. Và hành ấy có gì làm nhân? Có gì làm tập khởi? Có gì làm nguồn gốc? Có gì làm phát sanh? Này các Tỳ khưu, đối với kẻ phàm phu vô văn bị xúc chạm bởi cảm thọ sanh từ xúc đi kèm với vô minh, tham ái sanh khởi; hành ấy sanh từ đó. Này các Tỳ khưu, như vậy, hành ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Tham ái ấy cũng... cảm thọ ấy cũng... xúc ấy cũng... vô minh ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Này các Tỳ khưu, chính do biết như vậy, thấy như vậy mà sự đoạn tận các lậu hoặc xảy ra không gián đoạn.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati, na attani rūpaṁ samanupassati; api ca kho rūpasmiṁ attānaṁ samanupassati. Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so. So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo? Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā; tatojo so saṅkhāro. Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Sāpi taṇhā … sāpi vedanā … sopi phasso … sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā. Evampi kho, bhikkhave, jānato …pe… āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ, na attani rūpaṁ, na rūpasmiṁ attānaṁ samanupassati;
Perhaps they don’t regard form as self, or self as possessing form, or form in self, but they still regard self in form. But that regarding is just a conditioned phenomenon. …
Perhaps they don’t regard form as self, or self as possessing form, or form in self, or self in form.
Vị ấy không quán sát sắc là tự ngã, không quán sát tự ngã có sắc, không quán sát sắc ở trong tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã ở trong sắc. Này các Tỳ khưu, sự quán sát ấy chính là hành. Và hành ấy có gì làm nhân? Có gì làm tập khởi? Có gì làm nguồn gốc? Có gì làm phát sanh? Này các Tỳ khưu, đối với kẻ phàm phu vô văn bị xúc chạm bởi cảm thọ sanh từ xúc đi kèm với vô minh, tham ái sanh khởi; hành ấy sanh từ đó. Này các Tỳ khưu, như vậy, hành ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Tham ái ấy cũng... cảm thọ ấy cũng... xúc ấy cũng... vô minh ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Này các Tỳ khưu, đối với người biết như vậy... vân vân... sự đoạn tận các lậu hoặc xảy ra.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati,
Perhaps they don’t regard form
Vị ấy không quán sát sắc là tự ngã, không quán sát tự ngã có sắc, không quán sát sắc ở trong tự ngã, không quán sát tự ngã ở trong sắc; tuy nhiên, vị ấy quán sát thọ là tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã có thọ; tuy nhiên, vị ấy quán sát thọ ở trong tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã ở trong thọ; tuy nhiên, tưởng...; tuy nhiên, vị ấy quán sát các hành là tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã có các hành; tuy nhiên, vị ấy quán sát các hành ở trong tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã ở trong các hành; tuy nhiên, vị ấy quán sát thức là tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã có thức; tuy nhiên, vị ấy quán sát thức ở trong tự ngã; tuy nhiên, vị ấy quán sát tự ngã ở trong thức. Này các Tỳ khưu, sự quán sát ấy chính là hành. Và hành ấy có gì làm nhân?... vân vân... có gì làm phát sanh? Này các Tỳ khưu, đối với kẻ phàm phu vô văn bị xúc chạm bởi cảm thọ sanh từ xúc đi kèm với vô minh, tham ái sanh khởi; hành ấy sanh từ đó. Này các Tỳ khưu, như vậy, hành ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Tham ái ấy cũng... cảm thọ ấy cũng... xúc ấy cũng... vô minh ấy cũng vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Này các Tỳ khưu, chính do biết như vậy, thấy như vậy mà sự đoạn tận các lậu hoặc xảy ra không gián đoạn.
Vị ấy không hề quán xét sắc là tự ngã, không quán xét thọ là tự ngã, không quán xét tưởng… không quán xét các hành… không quán xét thức là tự ngã; tuy nhiên, vị ấy có tà kiến như sau: ‘Cái gì là tự ngã, cái ấy là thế gian; sau khi chết, cái ấy sẽ trở thành thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại’. Này các Tỳ khưu, thường kiến ấy chính là hành. Mà hành ấy lấy gì làm nhân duyên... (v.v.)... Này các Tỳ khưu, đối với người biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận ngay lập tức.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ attato samanupassati; nāpi evaṁdiṭṭhi hoti: ‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti. Api ca kho evaṁdiṭṭhi hoti: ‘no cassaṁ no ca me siyā nābhavissaṁ na me bhavissatī’ti. Yā kho pana sā, bhikkhave, ucchedadiṭṭhi saṅkhāro so. So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo? Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā; tatojo so saṅkhāro. Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco …pe… evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Perhaps they don’t regard form or feeling or perception or choices or consciousness as self. Nor do they have such a view: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable.’ Still, they have such a view: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’ But that annihilationist view is just a conditioned phenomenon. And what’s the source of that conditioned phenomenon? … That’s how you should know and see in order to end the defilements without delay.
Vị ấy không hề quán xét sắc là tự ngã, không quán xét thọ… không quán xét tưởng… không quán xét các hành… không quán xét thức là tự ngã; vị ấy cũng không có tà kiến như sau: ‘Cái gì là tự ngã, cái ấy là thế gian; sau khi chết, cái ấy sẽ trở thành thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại’. Tuy nhiên, vị ấy có tà kiến như sau: ‘Mong rằng tôi không tồn tại, mong rằng của tôi không tồn tại; tôi sẽ không tồn tại, của tôi sẽ không tồn tại’. Này các Tỳ khưu, đoạn kiến ấy chính là hành. Mà hành ấy lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm nguồn sinh, lấy gì làm phát sanh? Này các Tỳ khưu, do cảm thọ sanh từ xúc vô minh, ái khởi lên nơi kẻ phàm phu ít nghe; hành ấy sanh từ đó. Này các Tỳ khưu, như vậy, hành ấy cũng là vô thường... (v.v.)... Này các Tỳ khưu, đối với người biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận ngay lập tức.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na vedanaṁ … na saññaṁ … na saṅkhāre … na viññāṇaṁ attato samanupassati …pe… na viññāṇasmiṁ attato samanupassati, nāpi evaṁdiṭṭhi hoti: ‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti; nāpi evaṁdiṭṭhi hoti: ‘no cassaṁ no ca me siyā nābhavissaṁ na me bhavissatī’ti; api ca kho kaṅkhī hoti vicikicchī aniṭṭhaṅgato saddhamme. Yā kho pana sā, bhikkhave, kaṅkhitā vicikicchitā aniṭṭhaṅgatatā saddhamme saṅkhāro so. So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo? Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā; tatojo so saṅkhāro. Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Sāpi taṇhā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā. Sāpi vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā. Sopi phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā. Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti.
Navamaṁ.
Perhaps they don’t regard form or feeling or perception or choices or consciousness as self. Nor do they have such a view: ‘The self and the cosmos are one and the same. After death I will be that, permanent, everlasting, eternal, and imperishable.’ Nor do they have such a view: ‘I might not be, and it might not be mine. I will not be, and it will not be mine.’ Still, they have doubts and uncertainties. They’re undecided about the true teaching. That doubt and uncertainty, the indecision about the true teaching, is just a conditioned phenomenon. And what’s the source of that conditioned phenomenon? When an unlearned ordinary person is struck by feelings born of contact with ignorance, craving arises. That conditioned phenomenon is born from that. So that conditioned phenomenon is impermanent, conditioned, and dependently originated. And that craving, that feeling, that contact, and that ignorance are also impermanent, conditioned, and dependently originated. That’s how you should know and see in order to end the defilements without delay.”
Vị ấy không hề quán xét sắc là tự ngã, không quán xét thọ… không quán xét tưởng… không quán xét các hành… không quán xét thức là tự ngã… (v.v.)... không quán xét tự ngã trong thức, vị ấy cũng không có tà kiến như sau: ‘Cái gì là tự ngã, cái ấy là thế gian; sau khi chết, cái ấy sẽ trở thành thường còn, bền vững, vĩnh cửu, không bị biến hoại’; vị ấy cũng không có tà kiến như sau: ‘Mong rằng tôi không tồn tại, mong rằng của tôi không tồn tại; tôi sẽ không tồn tại, của tôi sẽ không tồn tại’; tuy nhiên, vị ấy lại có sự phân vân, hoài nghi, không đi đến quyết định ở trong Chánh pháp. Này các Tỳ khưu, sự phân vân, hoài nghi, không đi đến quyết định ở trong Chánh pháp ấy chính là hành. Mà hành ấy lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm nguồn sinh, lấy gì làm phát sanh? Này các Tỳ khưu, do cảm thọ sanh từ xúc vô minh, ái khởi lên nơi kẻ phàm phu ít nghe; hành ấy sanh từ đó. Này các Tỳ khưu, như vậy, hành ấy cũng là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Ái ấy cũng là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy cũng là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Xúc ấy cũng là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy cũng là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Này các Tỳ khưu, đối với người biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận ngay lập tức. (Hết) phẩm thứ chín.