- Saṁyutta Nikāya 22.80
- 8. Khajjanīyavagga
Bản dịch
SN 22.80 — Kinh Piṇḍolya
Piṇḍolyasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Cây Bàng (Nigrodhārāma)
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn nhân một lỗi lầm, sau khi quở trách chúng Tỷ-kheo Tăng, đắp y vào buổi sáng, cầm y bát, đi vào thành Kapilavatthu để khất thực.
Vi-n 3 Ði khất thực ở Kapilavatthu xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Mahāvana (Ðại Lâm) để nghỉ buổi trưa. Sau khi đi sâu vào rừng Mahāvana, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây veluvalatthikà.
Vi-n 4 Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:
Vi-n 5 “Chúng Tỷ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.
Vi-n 6 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 7 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!”
Vi-n 8 Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Vi-n 9 Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
—Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.
Vi-n 10 Nhưng ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 11 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 12 Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỷ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.
Vi-n 13 Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng Tỷ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho chúng Tỷ-kheo như trước đây chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỷ-kheo!
Vi-n 14 Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 15 Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Vi-n 16 Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến vườn Cây Bàng, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nghĩ rằng: “Ta hãy thị hiện thần thông một cách khiến cho các vị Tỷ-kheo ấy đến Ta từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi”.
Vi-n 17 Và các Tỷ-kheo ấy đến Thế Tôn, từng nhóm một hay hai người, với tâm có tội lỗi; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 18 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
—Này các Tỷ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỷ-kheo, khi nói: “Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống”. Này các Tỷ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra”.
Vi-n 19 Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là thiện gia nam tử xuất gia. Vị ấy có tham dục đối với các dục vọng, tham ái cuồng nhiệt, tâm tư sân hận, tư niệm ô nhiễm, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự. Ví như, này các Tỷ-kheo, một que củi từ chỗ hỏa táng, cả hai đầu đều cháy, ở giữa lại dính phân, không được dùng làm củi trong làng, không được dùng làm củi trong rừng. Dùng ví dụ ấy, Ta tả cho các Ông con người ấy, đã mất cả nhà và tài sản, lại không làm viên mãn mục đích của Sa-môn hạnh.
Vi-n 20 Này các Tỷ-kheo, có ba bất thiện tầm này: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Và này các Tỷ-kheo, ba bất thiện tầm này được đoạn diệt không có dư tàn, đối với vị nào tâm đã khéo an trú vào bốn Niệm xứ hay tu tập vô tướng Thiền định.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, hãy khéo tu tập vô tướng Thiền định. Này các Tỷ-kheo, vô tướng Thiền định được tu tập, làm cho tăng thịnh, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn.
Vi-n 22 Này các Tỷ-kheo, có hai kiến này: hữu kiến, phi hữu kiến. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Có cái gì ở trong đời, ta chấp trước mà không có phạm tội?”
Vi-n 23 Và vị ấy biết: “Không có cái gì ở trong đời ta chấp trước mà không có phạm tội”. Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ sắc … thọ … tưởng … các hành … Nếu ta chấp thủ sự chấp thủ thức, do duyên chấp thủ, hữu trở thành của ta. Do duyên hữu, có sanh. Do sanh, có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 24 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 25-28. —Thọ … Tưởng … Hành … Thức … Do vậy, này các Tỷ-kheo, thấy vậy … Vị ấy biết: ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.80
- 8. Bitable
Beggars
8. Kinh Piṇḍolya
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho bhagavā kismiñcideva pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ paṇāmetvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kapilavatthuṁ piṇḍāya pāvisi. Kapilavatthusmiṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena mahāvanaṁ tenupasaṅkami divāvihārāya. Mahāvanaṁ ajjhogāhetvā beluvalaṭṭhikāya mūle divāvihāraṁ nisīdi.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Then the Buddha, having dismissed the mendicant Saṅgha for some reason, robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kapilavatthu for alms. He wandered for alms in Kapilavatthu. After the meal, on his return from almsround, he went to the Great Wood for the day’s meditation, plunged deep into it, and sat at the root of a young wood-apple tree to meditate.
80. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakya, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodhārāma. Bấy giờ, Thế Tôn, vì một lý do nào đó, đã cho chúng Tỳ khưu Tăng lui ra, rồi vào buổi sáng, Ngài đắp y, mang bát, đi vào Kapilavatthu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kapilavatthu, dùng bữa xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, Ngài đi đến Đại Lâm để nghỉ ban ngày. Sau khi vào Đại Lâm, Ngài ngồi xuống nghỉ ban ngày dưới gốc cây Beluvalaṭṭhikā.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: “mayā kho bhikkhusaṅgho pabāḷho. Santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ. Tesaṁ mamaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo. Seyyathāpi nāma vacchassa taruṇassa mātaraṁ apassantassa siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo; evameva santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ tesaṁ mamaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo. Seyyathāpi nāma bījānaṁ taruṇānaṁ udakaṁ alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo; evameva santettha …pe… tesaṁ mamaṁ alabhantānaṁ dassanāya siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo. Yannūnāhaṁ yatheva mayā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito, evameva etarahi anuggaṇheyyaṁ bhikkhusaṅghan”ti.
Atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi. Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca: “evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Then as he was in private retreat this thought came to his mind, “I have purged the mendicant Saṅgha. But there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. Not seeing me they may change and fall apart. If a young calf doesn’t see its mother it may change and fall apart. … Or if young seedlings don’t get water they may change and fall apart. In the same way, there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. Not seeing me they may change and fall apart. Why don’t I support the mendicant Saṅgha now as I did in the past?”
Then the divinity Sahampati knew the Buddha’s train of thought. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the realm of divinity and reappeared in front of the Buddha. He arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said: “That’s so true, Blessed One! That’s so true, Holy One!
Bấy giờ, khi Đức Thế Tôn đang độc cư an tịnh, một tư duy như sau đã khởi lên trong tâm Ngài: 'Ta đã cho chúng Tỳ-khưu đi rồi. Ở đây, có những vị Tỳ-khưu mới, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này. Đối với các vị ấy, khi không nhìn thấy ta, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất. Ví như con bê non, khi không nhìn thấy mẹ, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất; cũng vậy, ở đây có những vị Tỳ-khưu mới, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, đối với các vị ấy, khi không nhìn thấy ta, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất. Ví như những hạt giống non, khi không nhận được nước, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất; cũng vậy, ở đây... đối với các vị ấy, khi không được nhìn thấy ta, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất. Vậy thì, ta nên nâng đỡ chúng Tỳ-khưu ngay bây giờ, giống như ta đã nâng đỡ chúng Tỳ-khưu trước đây.'
Bấy giờ, Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư duy trong tâm của Đức Thế Tôn, liền biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Thế Tôn, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra. Rồi Phạm thiên Sahampati vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và bạch với Ngài rằng: 'Bạch Đức Thế Tôn, đúng là như vậy! Bạch Đức Thiện Thệ, đúng là như vậy! Bạch Đại đức, Đức Thế Tôn đã cho chúng Tỳ-khưu đi rồi. Ở đây, có những vị Tỳ-khưu mới, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này. Đối với các vị ấy, khi không nhìn thấy Đức Thế Tôn, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất. Ví như con bê non, khi không nhìn thấy mẹ, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất; cũng vậy, ở đây có những vị Tỳ-khưu mới, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, đối với các vị ấy, khi không nhìn thấy Đức Thế Tôn, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất. Ví như những hạt giống non, khi không nhận được nước, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất; cũng vậy, ở đây có những vị Tỳ-khưu mới, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, đối với các vị ấy, khi không được nhìn thấy Đức Thế Tôn, có thể sẽ có sự đổi khác, có thể sẽ có sự biến chất. Bạch Đại đức, mong Đức Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỳ-khưu! Bạch Đại đức, mong Đức Thế Tôn hãy nói lời với chúng Tỳ-khưu! Mong rằng Đức Thế Tôn hãy nâng đỡ chúng Tỳ-khưu ngay bây giờ, giống như Ngài đã nâng đỡ chúng Tỳ-khưu trước đây.'
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho brahmā sahampati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
The Buddha consented with silence. Then the divinity Sahampati, knowing that the Buddha had consented, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Đức Thế Tôn đã im lặng nhận lời. Bấy giờ, Phạm thiên Sahampati, biết được sự nhận lời của Đức Thế Tôn, liền đảnh lễ Ngài, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena nigrodhārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā te bhikkhū ekadvīhikāya sārajjamānarūpā yenāhaṁ tenupasaṅkameyyuṁ. Tepi bhikkhū ekadvīhikāya sārajjamānarūpā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the Banyan Tree Monastery, where he sat down on the seat spread out. Then he used his psychic power to will that the mendicants would come to him timidly, alone or in pairs. Those mendicants approached the Buddha timidly, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to them:
Bấy giờ, vào buổi chiều, Đức Thế Tôn rời khỏi nơi độc cư, đi đến tu viện Nigrodhārāma; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Đức Thế Tôn đã thực hiện một loại thần thông tác thành khiến cho các vị Tỳ-khưu ấy, từng một vị, từng hai vị, với tâm trạng bối rối, đi đến chỗ Ngài. Các vị Tỳ-khưu ấy, từng một vị, từng hai vị, với tâm trạng bối rối, đã đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các vị Tỳ-khưu ấy đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói với họ lời này:
“Antamidaṁ, bhikkhave, jīvikānaṁ yadidaṁ piṇḍolyaṁ. Abhisāpoyaṁ, bhikkhave, lokasmiṁ piṇḍolo vicarasi pattapāṇīti. Tañca kho etaṁ, bhikkhave, kulaputtā upenti atthavasikā, atthavasaṁ paṭicca; neva rājābhinītā, na corābhinītā, na iṇaṭṭā, na bhayaṭṭā, na ājīvikāpakatā; api ca kho otiṇṇāmha jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇā dukkhaparetā appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti.
“This is the last of lifestyles, mendicants, namely relying on alms. The world curses you: ‘You beggar, walking bowl in hand!’ Yet earnest gentlemen take it up for a good reason. Not to escape a summons by a king or a summons for a bandit, or because you were in debt or in fear, or in order to make a living. But because they’re swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re swamped by suffering, mired in suffering. And they think, ‘Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’
‘Này các Tỳ-khưu, trong các nghề sinh nhai, nghề này là thấp kém nhất, tức là việc khất thực. Này các Tỳ-khưu, đây là một lời nguyền rủa ở thế gian: ‘Kẻ khất thực đi lang thang với cái bát trong tay’. Tuy nhiên, này các Tỳ-khưu, các thiện gia nam tử đến với nghề này là vì mục đích, y theo mục đích; không phải vì bị vua chúa ép buộc, không phải vì bị trộm cướp ép buộc, không phải vì mắc nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì mất kế sinh nhai; mà là vì: ‘Chúng ta bị chìm ngập trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ đau nhận chìm, bị khổ đau chi phối. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến.’
Evaṁ pabbajito cāyaṁ, bhikkhave, kulaputto. So ca hoti abhijjhālu kāmesu tibbasārāgo byāpannacitto paduṭṭhamanasaṅkappo muṭṭhassati asampajāno asamāhito vibbhantacitto pākatindriyo. Seyyathāpi, bhikkhave, chavālātaṁ ubhatopadittaṁ majjhe gūthagataṁ, neva gāme kaṭṭhatthaṁ pharati, nāraññe kaṭṭhatthaṁ pharati. Tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi gihibhogā ca parihīno, sāmaññatthañca na paripūreti.
That’s how this gentleman has gone forth. Yet they covet sensual pleasures; they’re infatuated, full of ill will and malicious intent. They are unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying mind and undisciplined faculties. Suppose there was a firebrand for lighting a funeral pyre, burning at both ends, and smeared with dung in the middle. It couldn’t be used as timber either in the village or the wilderness. I say that individual is just like this. They’ve missed out on the pleasures of the lay life, and haven’t fulfilled the goal of the ascetic life.
‘Này các Tỳ-khưu, vị thiện gia nam tử này đã xuất gia như vậy. Và vị ấy lại tham lam, có lòng ham muốn mãnh liệt trong các dục, có tâm sân hận, có ý định xấu xa, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm dao động, các căn không được chế ngự. Này các Tỳ-khưu, ví như một khúc gỗ ở bãi tha ma, cháy cả hai đầu, ở giữa dính đầy phân, không dùng làm củi trong làng được, cũng không dùng làm củi trong rừng được. Này các Tỳ-khưu, Ta nói rằng người này cũng tương tự như vậy: vừa từ bỏ các hưởng thụ của người tại gia, lại không hoàn thành được mục đích của đời sống sa-môn.
Tayome, bhikkhave, akusalavitakkā—kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko. Ime ca bhikkhave, tayo akusalavitakkā kva aparisesā nirujjhanti? Catūsu vā satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittassa viharato animittaṁ vā samādhiṁ bhāvayato. Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva animitto samādhi bhāvetuṁ. Animitto, bhikkhave, samādhi bhāvito bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso.
There are these three unskillful thoughts. Sensual, malicious, and cruel thoughts. And where do these three unskillful thoughts cease without remainder? In those who meditate with their mind firmly established in the four kinds of mindfulness meditation; or who develop signless immersion. This is quite enough motivation to develop signless immersion. When signless immersion is developed and cultivated it is very fruitful and beneficial.
‘Này các Tỳ-khưu, có ba loại tư duy bất thiện này: dục tầm, sân tầm, và hại tầm. Và này các Tỳ-khưu, ba loại tư duy bất thiện này được đoạn diệt không còn dư tàn ở đâu? Nơi người an trú với tâm được thiết lập vững chắc trong bốn niệm xứ, hoặc nơi người tu tập vô tướng định. Này các Tỳ-khưu, vô tướng định này thật đáng để tu tập. Này các Tỳ-khưu, vô tướng định, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.
Dvemā, bhikkhave, diṭṭhiyo—bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca. Tatra kho, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘atthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yamahaṁ upādiyamāno na vajjavā assan’ti? So evaṁ pajānāti: ‘natthi nu kho taṁ kiñci lokasmiṁ yamahaṁ upādiyamāno na vajjavā assaṁ. Ahañhi rūpaññeva upādiyamāno upādiyeyyaṁ vedanaññeva … saññaññeva … saṅkhāreyeva viññāṇaññeva upādiyamāno upādiyeyyaṁ. Tassa me assa upādānapaccayā bhavo; bhavapaccayā jāti; jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhaveyyuṁ. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo assā’ti.
There are these two views. Views favoring existence and views favoring nonexistence. A learned noble disciple reflects on this: ‘Is there anything in the world that I could grasp without fault?’ They understand: ‘There’s nothing in the world that I could grasp without fault. For in grasping I would grasp only at form, feeling, perception, choices, or consciousness. That grasping of mine would be a condition for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.’
Này các Tỳ khưu, có hai loại tà kiến này: thường kiến và đoạn kiến. Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều suy xét như sau: ‘Có cái gì ở trên đời mà khi ta chấp thủ vào sẽ không có lỗi lầm chăng?’ Vị ấy biết rõ như sau: ‘Không có bất cứ cái gì ở trên đời mà khi ta chấp thủ vào sẽ không có lỗi lầm. Vì nếu ta chấp thủ, ta sẽ chấp thủ vào chính sắc... chính thọ... chính tưởng... chính các hành... chính thức. Do duyên chấp thủ ấy của ta mà có hữu; do duyên hữu mà có sanh; do duyên sanh mà già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.’
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ …pe…
tasmātiha, bhikkhave,
evaṁ passaṁ … nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?” …
“So you should truly see …
Seeing this … They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay lạc? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không? – Bạch Thế Tôn, không đáng. – Thọ... tưởng... các hành... thức... Này các Tỳ khưu, do vậy, thấy như vậy... vị ấy biết rõ: ‘... không còn gì khác phải làm cho mục đích này nữa.’