- Saṁyutta Nikāya 22.79
- 8. Khajjanīyavagga
Bản dịch
SN 22.79 — Kinh Khajjanīya
Khajjanīyasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có nhớ đến các đời sống ở các kiếp trước, tất cả họ đều nhớ đến năm thủ uẩn hay nhớ đến một trong những uẩn này.
Vi-n 4 Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, thân ta như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến sắc. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ, ta có cảm thọ như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thọ. Hay có người nhớ rằng: “Trong quá khứ ta có tưởng … có các hành … có thức như thế này”. Nhớ như vậy, vị ấy nhớ đến thức.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm … rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.
Vi-n 10 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nay ta bị sắc chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị sắc chinh phục, như ta bị sắc hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với sắc vị lai, thời trong vị lai, ta sẽ bị sắc chinh phục, như nay ta bị sắc hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với sắc quá khứ, không có hoan hỷ đối với sắc vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc hiện tại.
Vi-n 12 “Ta nay bị thọ chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thọ chinh phục như vậy, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thọ vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thọ chinh phục, như nay ta bị thọ hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không luyến tiếc đối với thọ quá khứ, không có hoan hỷ đối với thọ vị lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ hiện tại.
Vi-n 13 “Ta nay bị tưởng chinh phục … ”.
Vi-n 14 “Ta nay bị các hành chinh phục … ”.
Vi-n 15 “Ta nay bị thức chinh phục. Trong thời quá khứ, ta cũng bị thức chinh phục như vậy, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục. Nếu ta hoan hỷ đối với thức vị lai, thời trong thời vị lai, ta sẽ bị thức chinh phục, như nay ta bị thức hiện tại chinh phục”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy không có luyến tiếc đối với thức quá khứ, không có hoan hỷ đối với thức tương lai, và thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức hiện tại.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17-19. —Thọ … Tưởng … Các hành …
Vi-n 20 Thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng … xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 22 Ðối với thọ …
Vi-n 23 Ðối với tưởng …
Vi-n 24 Ðối với các hành.
Vi-n 25 Ðối với thức quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức đều phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 26 Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử giảm thiểu, không tăng trưởng, từ bỏ, không chấp thủ, xa lánh, không thân cận, phân tán, không huân tập.
Vi-n 27 Giảm thiểu, không tăng trưởng cái gì? Giảm thiểu, không tăng trưởng sắc…, giảm thiểu, không tăng trưởng thọ … tưởng … các hành … giảm thiểu, không tăng trưởng thức.
Vi-n 28 Từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Từ bỏ, không chấp thủ sắc … thọ … tưởng … các hành … từ bỏ, không chấp thủ thức.
Vi-n 29 Xa lánh, không thân cận cái gì? Xa lánh, không thân cận sắc … thọ … tưởng … các hành … xa lánh, không thân cận thức.
Vi-n 30 Phân tán, không huân tập cái g? Phân tán, không huân tập sắc … thọ … tưởng … các hành … phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 31 Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 32 Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vị Tỷ-kheo không tăng trưởng, không giảm thiểu. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập.
Vi-n 33 Sau khi phân tán, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu cái gì? Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu sắc. Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không tăng trưởng, không giảm thiểu thọ … tưởng … các hành … không tăng trưởng, không giảm thiểu thức.
Vi-n 34 Sau khi giảm thiểu, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ cái gì? Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ sắc; sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không từ bỏ, không chấp thủ thọ … tưởng … các hành … không từ bỏ, không chấp thủ thức.
Vi-n 35 Sau khi từ bỏ, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận cái gì? Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận sắc; sau khi xa lánh, vị ấy trú, không xa lánh, không thân cận thọ … tưởng … các hành … không phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 36 Sau khi xa lánh, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập cái gì? Sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập sắc; sau khi phân tán, vị ấy trú, không phân tán, không huân tập thọ … tưởng … các hành … không phân tán, không huân tập thức.
Vi-n 37 Sau khi phân tán, vị ấy trú, với tâm giải thoát như vậy. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy được chư Thiên với Thiên chủ, Phạm thiên chúng với Phạm thiên đảnh lễ, dầu cho ở xa:
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Bậc người như lương mã!
Ôi, ta đảnh lễ Ông,
Là bậc tối thắng nhân!
Ta không có chấp trước,
Ðối tượng Ông Thiền tư!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.79
- 8. Bitable
Bitable
7. 7. Kinh Khajjanīya
Sāvatthinidānaṁ.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaramānā anussaranti sabbete pañcupādānakkhandhe anussaranti etesaṁ vā aññataraṁ. Katame pañca? ‘Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānan’ti—iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno rūpaṁyeva anussarati. ‘Evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānan’ti—iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno vedanaṁyeva anussarati. ‘Evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānan’ti … ‘evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānan’ti … ‘evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānan’ti—iti vā hi, bhikkhave, anussaramāno viññāṇameva anussarati.
At Sāvatthī.
“Mendicants, whatever ascetics and brahmins recollect many kinds of past lives, all recollect the five grasping aggregates, or one of them. What five? ‘I had such form in the past.’ Recollecting thus, it’s only form that they recollect. ‘I had such feeling … perception … choices … consciousness in the past.’ Recollecting thus, it’s only consciousness that they recollect.
79. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, trong khi nhớ lại, nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, tất cả họ đều nhớ lại năm thủ uẩn, hoặc một trong số chúng. Năm uẩn ấy là gì? 'Trong quá khứ, ta đã có sắc như vậy' – này các Tỳ khưu, khi nhớ lại như vậy, vị ấy chỉ nhớ lại sắc mà thôi. 'Trong quá khứ, ta đã có thọ như vậy' – này các Tỳ khưu, khi nhớ lại như vậy, vị ấy chỉ nhớ lại thọ mà thôi. 'Trong quá khứ, ta đã có tưởng như vậy'... 'Trong quá khứ, ta đã có các hành như vậy'... 'Trong quá khứ, ta đã có thức như vậy' – này các Tỳ khưu, khi nhớ lại như vậy, vị ấy chỉ nhớ lại thức mà thôi.
Kiñca, bhikkhave, rūpaṁ vadetha? Ruppatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘rūpan’ti vuccati. Kena ruppati? Sītenapi ruppati, uṇhenapi ruppati, jighacchāyapi ruppati, pipāsāyapi ruppati, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassenapi ruppati. Ruppatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘rūpan’ti vuccati.
And why do you call it form? It’s deformed; that’s why it’s called ‘form’. Deformed by what? Deformed by cold, heat, hunger, and thirst, and deformed by the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. It’s deformed; that’s why it’s called ‘form’.
Này các Tỳ khưu, tại sao gọi là sắc? Này các Tỳ khưu, vì nó bị biến hoại, nên được gọi là 'sắc'. Bị biến hoại bởi cái gì? Bị biến hoại bởi lạnh, bị biến hoại bởi nóng, bị biến hoại bởi đói, bị biến hoại bởi khát, bị biến hoại bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát. Này các Tỳ khưu, vì nó bị biến hoại, nên được gọi là 'sắc'.
Kiñca, bhikkhave, vedanaṁ vadetha? Vedayatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘vedanā’ti vuccati. Kiñca vedayati? Sukhampi vedayati, dukkhampi vedayati, adukkhamasukhampi vedayati. Vedayatīti kho, bhikkhave, tasmā ‘vedanā’ti vuccati.
And why do you call it feeling? It feels; that’s why it’s called ‘feeling’. And what does it feel? It feels pleasure, pain, and neutral. It feels; that’s why it’s called ‘feeling’.
Này các Tỳ khưu, tại sao gọi là thọ? Này các Tỳ khưu, vì nó cảm nhận, nên được gọi là 'thọ'. Cảm nhận cái gì? Nó cảm nhận lạc, nó cảm nhận khổ, nó cảm nhận phi khổ phi lạc. Này các Tỳ khưu, vì nó cảm nhận, nên được gọi là 'thọ'.
Kiñca, bhikkhave, saññaṁ vadetha? Sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati. Kiñca sañjānāti? Nīlampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti. Sañjānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saññā’ti vuccati.
And why do you call it perception? It perceives; that’s why it’s called ‘perception’. And what does it perceive? It perceives blue, yellow, red, and white. It perceives; that’s why it’s called ‘perception’.
Này các Tỳ khưu, tại sao gọi là tưởng? Này các Tỳ khưu, vì nó tri nhận, nên được gọi là 'tưởng'. Tri nhận cái gì? Nó tri nhận màu xanh, nó tri nhận màu vàng, nó tri nhận màu đỏ, nó tri nhận màu trắng. Này các Tỳ khưu, vì nó tri nhận, nên được gọi là 'tưởng'.
Kiñca, bhikkhave, saṅkhāre vadetha? Saṅkhatamabhisaṅkharontīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saṅkhārā’ti vuccati. Kiñca saṅkhatamabhisaṅkharonti? Rūpaṁ rūpattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, vedanaṁ vedanattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, saññaṁ saññattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, saṅkhāre saṅkhārattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti, viññāṇaṁ viññāṇattāya saṅkhatamabhisaṅkharonti. Saṅkhatamabhisaṅkharontīti kho, bhikkhave, tasmā ‘saṅkhārā’ti vuccati.
And why do you call them choices? Choices produce conditioned phenomena; that’s why they’re called ‘choices’. And what are the conditioned phenomena that they produce? Form is a conditioned phenomenon; choices are what make it into form. Feeling is a conditioned phenomenon; choices are what make it into feeling. Perception is a conditioned phenomenon; choices are what make it into perception. Choices are conditioned phenomena; choices are what make them into choices. Consciousness is a conditioned phenomenon; choices are what make it into consciousness. Choices produce conditioned phenomena; that’s why they’re called ‘choices’.
Này các Tỳ khưu, tại sao gọi là các hành? Này các Tỳ khưu, vì chúng tạo tác cái hữu vi, nên được gọi là 'các hành'. Chúng tạo tác cái hữu vi nào? Chúng tạo tác cái hữu vi là sắc với mục đích là sắc; chúng tạo tác cái hữu vi là thọ với mục đích là thọ; chúng tạo tác cái hữu vi là tưởng với mục đích là tưởng; chúng tạo tác cái hữu vi là các hành với mục đích là các hành; chúng tạo tác cái hữu vi là thức với mục đích là thức. Này các Tỳ khưu, vì chúng tạo tác cái hữu vi, nên được gọi là 'các hành'.
Kiñca, bhikkhave, viññāṇaṁ vadetha? Vijānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘viññāṇan’ti vuccati. Kiñca vijānāti? Ambilampi vijānāti, tittakampi vijānāti, kaṭukampi vijānāti, madhurampi vijānāti, khārikampi vijānāti, akhārikampi vijānāti, loṇikampi vijānāti, aloṇikampi vijānāti. Vijānātīti kho, bhikkhave, tasmā ‘viññāṇan’ti vuccati.
And why do you call it consciousness? It cognizes; that’s why it’s called ‘consciousness’. And what does it cognize? It cognizes sour, bitter, pungent, sweet, hot, mild, salty, and bland. It cognizes; that’s why it’s called ‘consciousness’.
Này các Tỳ khưu, tại sao gọi là thức? Này các Tỳ khưu, vì nó nhận biết, nên được gọi là 'thức'. Nhận biết cái gì? Nó nhận biết vị chua, nó nhận biết vị đắng, nó nhận biết vị cay, nó nhận biết vị ngọt, nó nhận biết vị mặn, nó nhận biết vị không mặn, nó nhận biết vị muối, nó nhận biết vị không muối. Này các Tỳ khưu, vì nó nhận biết, nên được gọi là 'thức'.
Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ kho etarahi rūpena khajjāmi. Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmi. Ahañceva kho pana anāgataṁ rūpaṁ abhinandeyyaṁ, anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva rūpena khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena rūpena khajjāmī’ti. So iti paṭisaṅkhāya atītasmiṁ rūpasmiṁ anapekkho hoti; anāgataṁ rūpaṁ nābhinandati; paccuppannassa rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
A learned noble disciple reflects on this: ‘Currently I’m bitten by form. In the past I was also bitten by form just like now. If I were to look forward to enjoying form in the future, I’d be bitten by form in the future just as I am today.’ Reflecting like this they are not concerned with past form, they don’t look forward to enjoying future form, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present form.
Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều suy xét như sau: 'Nay ta đang bị sắc ăn mòn. Trong quá khứ, ta cũng đã bị sắc ăn mòn như vậy, giống như nay ta đang bị sắc hiện tại ăn mòn. Và nếu ta hoan hỷ với sắc tương lai, thì trong tương lai, ta cũng sẽ bị sắc ăn mòn như vậy, giống như nay ta đang bị sắc hiện tại ăn mòn.' Vị ấy, sau khi suy xét như vậy, trở nên không luyến tiếc đối với sắc quá khứ; không hoan hỷ với sắc tương lai; và thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với sắc hiện tại.
‘Ahaṁ kho etarahi vedanāya khajjāmi. Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva vedanāya khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannāya vedanāya khajjāmi. Ahañceva kho pana anāgataṁ vedanaṁ abhinandeyyaṁ; anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva vedanāya khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannāya vedanāya khajjāmī’ti. So iti paṭisaṅkhāya atītāya vedanāya anapekkho hoti; anāgataṁ vedanaṁ nābhinandati; paccuppannāya vedanāya nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
‘Currently I’m bitten by feeling …
'Nay ta đang bị thọ ăn mòn. Trong quá khứ, ta cũng đã bị thọ ăn mòn như vậy, giống như nay ta đang bị thọ hiện tại ăn mòn. Và nếu ta hoan hỷ với thọ tương lai, thì trong tương lai, ta cũng sẽ bị thọ ăn mòn như vậy, giống như nay ta đang bị thọ hiện tại ăn mòn.' Vị ấy, sau khi suy xét như vậy, trở nên không luyến tiếc đối với thọ quá khứ; không hoan hỷ với thọ tương lai; và thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thọ hiện tại.
‘Ahaṁ kho etarahi saññāya khajjāmi …pe…
ahaṁ kho etarahi saṅkhārehi khajjāmi. Atītampāhaṁ addhānaṁ evameva saṅkhārehi khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannehi saṅkhārehi khajjāmīti. Ahañceva kho pana anāgate saṅkhāre abhinandeyyaṁ; anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva saṅkhārehi khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannehi saṅkhārehi khajjāmī’ti. So iti paṭisaṅkhāya atītesu saṅkhāresu anapekkho hoti; anāgate saṅkhāre nābhinandati; paccuppannānaṁ saṅkhārānaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
perception …
choices …
'Nay ta đang bị tưởng ăn mòn... vân vân... Nay ta đang bị các hành ăn mòn. Trong quá khứ, ta cũng đã bị các hành ăn mòn như vậy, giống như nay ta đang bị các hành hiện tại ăn mòn. Và nếu ta hoan hỷ với các hành tương lai, thì trong tương lai, ta cũng sẽ bị các hành ăn mòn như vậy, giống như nay ta đang bị các hành hiện tại ăn mòn.' Vị ấy, sau khi suy xét như vậy, trở nên không luyến tiếc đối với các hành quá khứ; không hoan hỷ với các hành tương lai; và thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với các hành hiện tại.
‘Ahaṁ kho etarahi viññāṇena khajjāmi. Atītampi addhānaṁ evameva viññāṇena khajjiṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena viññāṇena khajjāmi. Ahañceva kho pana anāgataṁ viññāṇaṁ abhinandeyyaṁ; anāgatampāhaṁ addhānaṁ evameva viññāṇena khajjeyyaṁ, seyyathāpi etarahi paccuppannena viññāṇena khajjāmī’ti. So iti paṭisaṅkhāya atītasmiṁ viññāṇasmiṁ anapekkho hoti; anāgataṁ viññāṇaṁ nābhinandati; paccuppannassa viññāṇassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
consciousness. In the past I was also bitten by consciousness just like now. If I were to look forward to enjoying consciousness in the future, I’d be bitten by consciousness in the future just as I am today.’ Reflecting like this they are not concerned with past consciousness, they don’t look forward to enjoying future consciousness, and they practice for disillusionment, dispassion, and cessation regarding present consciousness.
‘Hiện tại, ta đang bị thức ăn nuốt. Trong quá khứ, ta cũng đã bị thức ăn nuốt giống như vậy, cũng như hiện tại ta đang bị thức của hiện tại ăn nuốt. Nếu ta lại hoan hỷ với thức trong tương lai, thì trong tương lai ta cũng sẽ bị thức ăn nuốt giống như vậy, cũng như hiện tại ta đang bị thức của hiện tại ăn nuốt’. Vị ấy, sau khi suy xét như vậy, trở nên không luyến tiếc đối với thức trong quá khứ; không hoan hỷ với thức trong tương lai; và thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với thức trong hiện tại.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā … saññā … saṅkhārā … viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ. Yā kāci vedanā … yā kāci saññā … ye keci saṅkhārā … yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“So you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ You should truly see any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
“Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không đáng.” – “Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” – “Bạch Thế Tôn, không đáng.” – “Vì vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ sắc nào, dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc ấy cần phải được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Bất cứ thọ nào… bất cứ tưởng nào… bất cứ các hành nào… bất cứ thức nào, dù là quá khứ, tương lai, hay hiện tại… (như trên)… xa hay gần, tất cả thức ấy cần phải được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’.”
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako apacināti, no ācināti; pajahati, na upādiyati; visineti, na ussineti; vidhūpeti, na sandhūpeti.
Kiñca apacināti, no ācināti? Rūpaṁ apacināti, no ācināti; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ apacināti, no ācināti.
Kiñca pajahati, na upādiyati? Rūpaṁ pajahati, na upādiyati; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ pajahati, na upādiyati.
Kiñca visineti, na ussineti? Rūpaṁ visineti, na ussineti; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ visineti, na ussineti.
Kiñca vidhūpeti, na sandhūpeti? Rūpaṁ vidhūpeti, na sandhūpeti; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ vidhūpeti, na sandhūpeti.
This is called a noble disciple who gets rid of and doesn’t accumulate; who gives up and doesn’t grasp; who unmeshes and doesn’t enmesh; who dissipates and doesn’t get clouded.
And what things do they get rid of and not accumulate? They get rid of form and don’t accumulate it. They get rid of feeling … perception … choices … consciousness and don’t accumulate it.
And what things do they give up and not grasp? They give up form and don’t grasp it. They give up feeling … perception … choices … consciousness and don’t grasp it.
And what things do they unmesh and not enmesh? They unmesh form and don’t enmesh it. They unmesh feeling … perception … choices … consciousness and don’t enmesh it.
And what things do they dissipate and not get clouded by? They dissipate form and don’t get clouded by it. They dissipate feeling … perception … choices … consciousness and don’t get clouded by it.
“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử này được gọi là người làm cho suy giảm, không làm cho tích lũy; là người từ bỏ, không chấp thủ; là người làm cho tan rã, không vun đắp; là người dập tắt, không nhen nhóm. Vị ấy làm cho suy giảm điều gì, không làm cho tích lũy điều gì? Vị ấy làm cho sắc suy giảm, không làm cho tích lũy; làm cho thọ… tưởng… các hành… thức suy giảm, không làm cho tích lũy. Vị ấy từ bỏ điều gì, không chấp thủ điều gì? Vị ấy từ bỏ sắc, không chấp thủ; từ bỏ thọ… tưởng… các hành… thức, không chấp thủ. Vị ấy làm cho tan rã điều gì, không vun đắp điều gì? Vị ấy làm cho sắc tan rã, không vun đắp; làm cho thọ… tưởng… các hành… thức tan rã, không vun đắp. Vị ấy dập tắt điều gì, không nhen nhóm điều gì? Vị ấy dập tắt sắc, không nhen nhóm; dập tắt thọ… tưởng… các hành… thức, không nhen nhóm.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử đa văn, khi thấy như vậy, liền nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành… nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ rằng: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito; neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito; neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito; neva vidhūpeti na sandhūpeti vidhūpetvā ṭhito
Kiñca nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito? Rūpaṁ nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ nevācināti na apacināti, apacinitvā ṭhito.
Kiñca neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito? Rūpaṁ neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ neva pajahati na upādiyati, pajahitvā ṭhito.
Kiñca neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito? Rūpaṁ neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ neva visineti na ussineti, visinetvā ṭhito.
Kiñca neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito? Rūpaṁ neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ neva vidhūpeti na sandhūpeti, vidhūpetvā ṭhito.
Evaṁvimuttacittaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuṁ saindā devā sabrahmakā sapajāpatikā ārakāva namassanti:
This is called a mendicant who neither gets rid of nor accumulates, but remains after getting rid. They neither give up nor grasp, but remain after giving up. They neither unmesh nor enmesh, but remain after unmeshing. They neither dissipate nor get clouded, but remain after dissipating.
And what things do they neither get rid of nor accumulate, but remain after getting rid of them? They neither get rid of nor accumulate form, but remain after getting rid of it. They neither get rid of nor accumulate feeling … perception … choices … consciousness, but remain after getting rid of it.
And what things do they neither give up nor grasp, but remain after giving them up? They neither give up nor grasp form, but remain after giving it up. They neither give up nor grasp feeling … perception … choices … consciousness, but remain after giving it up.
And what things do they neither discard nor amass, but remain after discarding them? They neither unmesh nor enmesh form, but remain after unmeshing it. They neither unmesh nor enmesh feeling … perception … choices … consciousness, but remain after unmeshing it.
And what things do they neither dissipate nor get clouded by, but remain after dissipating them? They neither dissipate nor get clouded by form, but remain after dissipating it. They neither dissipate nor get clouded by feeling … perception … choices … consciousness, but remain after dissipating it.
When a mendicant’s mind is freed like this, the gods together with Indra, the Divinity, and the Progenitor worship them from afar:
“Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là người không tích lũy cũng không làm suy giảm, sau khi đã làm suy giảm thì an trú; không từ bỏ cũng không chấp thủ, sau khi đã từ bỏ thì an trú; không làm tan rã cũng không vun đắp, sau khi đã làm tan rã thì an trú; không dập tắt cũng không nhen nhóm, sau khi đã dập tắt thì an trú. Vị ấy không tích lũy cũng không làm suy giảm điều gì, sau khi đã làm suy giảm thì an trú? Vị ấy không tích lũy cũng không làm suy giảm sắc, sau khi đã làm suy giảm thì an trú; không tích lũy cũng không làm suy giảm thọ… tưởng… các hành… thức, sau khi đã làm suy giảm thì an trú. Vị ấy không từ bỏ cũng không chấp thủ điều gì, sau khi đã từ bỏ thì an trú? Vị ấy không từ bỏ cũng không chấp thủ sắc, sau khi đã từ bỏ thì an trú; không từ bỏ cũng không chấp thủ thọ… tưởng… các hành… thức, sau khi đã từ bỏ thì an trú. Vị ấy không làm tan rã cũng không vun đắp điều gì, sau khi đã làm tan rã thì an trú? Vị ấy không làm tan rã cũng không vun đắp sắc, sau khi đã làm tan rã thì an trú; không làm tan rã cũng không vun đắp thọ… tưởng… các hành… thức, sau khi đã làm tan rã thì an trú. Vị ấy không dập tắt cũng không nhen nhóm điều gì, sau khi đã dập tắt thì an trú? Vị ấy không dập tắt cũng không nhen nhóm sắc, sau khi đã dập tắt thì an trú; không dập tắt cũng không nhen nhóm thọ… tưởng… các hành… thức, sau khi đã dập tắt thì an trú. Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu có tâm giải thoát như vậy, các vị trời cùng với Indra, Brahma, và Pajāpati từ xa đảnh lễ rằng:
‘Namo te purisājañña, namo te purisuttama; Yassa te nābhijānāma, yampi nissāya jhāyasī’”ti.
Sattamaṁ.
‘Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! We don’t understand the basis of your absorption.’”
“Kính lễ Ngài, bậc Trượng phu cao quý! Kính lễ Ngài, bậc Tối thượng nhân! Chúng con không biết được, pháp mà Ngài nương tựa để thiền định’.” (Kinh thứ bảy.)