- Saṁyutta Nikāya 22.7
- 1. Nakulapituvagga
Bản dịch
SN 22.7 — Kinh Lo Âu Do Chấp Thủ
Upādāparitassanāsutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về sự chấp thủ và ưu não, sự không chấp thủ và không ưu não. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp thủ và ưu não?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, người ấy quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc sau khi xâm nhập tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.
Vi-n 5 Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ trong tự ngã, hay tự ngã trong thọ. Ðối với vị ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thọ ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm nhập nên khủng bố (uttàsavà), chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.
Vi-n 6-7. Vị ấy quán tưởng như là tự ngã … vị ấy quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có các hành, hay các hành trong tự ngã, hay tự ngã trong các hành. Ðối với vị ấy, các hành ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi các hành ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của các hành sanh khởi sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.
Vi-n 8 Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Ðối với vị ấy, thức ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức sanh khởi sau khi xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố, chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp thủ và ưu não.
Vi-n 10 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không chấp thủ và không ưu não?
Vi-n 11 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của sắc không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.
Vi-n 12 Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Ðối với vị ấy, thọ ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thọ ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thọ không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.
Vi-n 13 Không quán tưởng như là tự ngã …
Vi-n 14 Không quán các hành như là tự ngã …
Vi-n 15 Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Ðối với vị ấy, thức ấy biến hoại và đổi khác. Ðối với vị ấy, khi thức ấy biến hoại và đổi khác, thức không tùy chuyển theo sự biến hoại của thức. Các pháp ưu não do thức tùy chuyển theo sự biến hoại của thức không sanh khởi, không xâm chiếm tâm và an trú. Do tâm không bị xâm chiếm nên không có khủng bố, không có chướng ngại, không có khát vọng khởi lên và ưu não.
Vi-n 16 Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự không chấp thủ, không ưu não.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.7
- 1. Nakula’s Father
Anxiety Because of Grasping
7. Kinh Lo Âu Do Chấp Thủ
Sāvatthinidānaṁ.
“Upādāparitassanañca vo, bhikkhave, desessāmi anupādāaparitassanañca. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti, kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
At Sāvatthī.
“Mendicants, I will teach you how grasping leads to anxiety, and how not grasping leads to freedom from anxiety. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
7. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ngươi về sự lo âu do chấp thủ và sự không lo âu do không chấp thủ. Hãy lắng nghe điều ấy, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói. – Xin vâng, bạch Thế Tôn. – Các tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Kathañca, bhikkhave, upādāparitassanā hoti? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. Tassa taṁ rūpaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā rūpavipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa rūpavipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso pariyādānā uttāsavā ca hoti vighātavā ca apekkhavā ca upādāya ca paritassati.
“And how does grasping lead to anxiety? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. But that form of theirs decays and perishes, and consciousness latches on to the perishing of form. Anxieties occupy their mind, born of latching on to the perishing of form, and originating in accordance with natural principles. So they become frightened, worried, concerned, and anxious because of grasping.
Này các tỳ khưu, thế nào là sự lo âu do chấp thủ? Này các tỳ khưu, ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục Pháp của bậc Thánh, không được tu tập trong Pháp của bậc Thánh; không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục Pháp của bậc Chân nhân, không được tu tập trong Pháp của bậc Chân nhân, quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Sắc ấy của người ấy biến hoại và trở nên khác đi. Do sắc biến hoại và trở nên khác đi, thức của người ấy khởi lên theo sự biến hoại của sắc. Do các pháp lo âu sanh khởi từ sự khởi lên theo sự biến hoại của sắc, tâm của người ấy bị chiếm giữ và tồn tại. Do tâm bị chiếm giữ, người ấy trở nên sợ hãi, phiền muộn, và luyến tiếc; và do chấp thủ nên lo âu.
Vedanaṁ attato samanupassati, vedanāvantaṁ vā attānaṁ; attani vā vedanaṁ, vedanāya vā attānaṁ. Tassa sā vedanā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā vedanāvipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa vedanāvipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso pariyādānā uttāsavā ca hoti vighātavā ca apekkhavā ca upādāya ca paritassati.
They regard feeling as self …
Người ấy quán thọ là tự ngã, hoặc tự ngã có thọ, hoặc thọ ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thọ. Thọ ấy của người ấy biến hoại và trở nên khác đi. Do thọ biến hoại và trở nên khác đi, thức của người ấy khởi lên theo sự biến hoại của thọ. Do các pháp lo âu sanh khởi từ sự khởi lên theo sự biến hoại của thọ, tâm của người ấy bị chiếm giữ và tồn tại. Do tâm bị chiếm giữ, người ấy trở nên sợ hãi, phiền muộn, và luyến tiếc; và do chấp thủ nên lo âu.
Saññaṁ attato samanupassati …pe…
saṅkhāre attato samanupassati, saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ; attani vā saṅkhāre, saṅkhāresu vā attānaṁ. Tassa te saṅkhārā vipariṇamanti aññathā honti. Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā saṅkhāravipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa saṅkhāravipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso pariyādānā uttāsavā ca hoti vighātavā ca apekkhavā ca upādāya ca paritassati.
They regard perception as self …
They regard choices as self …
Người ấy quán tưởng là tự ngã ... Người ấy quán các hành là tự ngã, hoặc tự ngã có các hành, hoặc các hành ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong các hành. Các hành ấy của người ấy biến hoại và trở nên khác đi. Do các hành biến hoại và trở nên khác đi, thức của người ấy khởi lên theo sự biến hoại của các hành. Do các pháp lo âu sanh khởi từ sự khởi lên theo sự biến hoại của các hành, tâm của người ấy bị chiếm giữ và tồn tại. Do tâm bị chiếm giữ, người ấy trở nên sợ hãi, phiền muộn, và luyến tiếc; và do chấp thủ nên lo âu.
Viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Tassa taṁ viññāṇaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā viññāṇavipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso pariyādānā uttāsavā ca hoti vighātavā ca apekkhavā ca upādāya ca paritassati. Evaṁ kho, bhikkhave, upādāparitassanā hoti.
They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. But that consciousness of theirs decays and perishes, and consciousness latches on to the perishing of consciousness. Anxieties occupy their mind, born of latching on to the perishing of consciousness, and originating in accordance with natural principles. So they become frightened, worried, concerned, and anxious because of grasping. That’s how grasping leads to anxiety.
Người ấy quán thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy biến hoại và trở nên khác đi. Do thức biến hoại và trở nên khác đi, thức của người ấy khởi lên theo sự biến hoại của thức. Do các pháp lo âu sanh khởi từ sự khởi lên theo sự biến hoại của thức, tâm của người ấy bị chiếm giữ và tồn tại. Do tâm bị chiếm giữ, người ấy trở nên sợ hãi, phiền muộn, và luyến tiếc; và do chấp thủ nên lo âu. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự lo âu do chấp thủ.
Kathañca, bhikkhave, anupādāaparitassanā hoti? Idha, bhikkhave, sutavā ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto na rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ vā attānaṁ; na attani vā rūpaṁ, na rūpasmiṁ vā attānaṁ. Tassa taṁ rūpaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā na rūpavipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa na rūpavipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti.
And how does not grasping lead to freedom from anxiety? It’s when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They’ve seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don’t regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. When that form of theirs decays and perishes, consciousness doesn’t latch on to the perishing of form. Anxieties—born of latching on to the perishing of form and originating in accordance with natural principles—don’t occupy their mind.
Này các tỳ khưu, thế nào là sự không lo âu do không chấp thủ? Này các tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục Pháp của bậc Thánh, được tu tập trong Pháp của bậc Thánh; được thấy các bậc Chân nhân, thuần thục Pháp của bậc Chân nhân, được tu tập trong Pháp của bậc Chân nhân, vị ấy không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã có sắc, không quán sắc ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong sắc. Sắc ấy của người ấy biến hoại và trở nên khác đi. Do sắc biến hoại và trở nên khác đi, thức của người ấy không khởi lên theo sự biến hoại của sắc. Do các pháp lo âu không sanh khởi từ sự không khởi lên theo sự biến hoại của sắc, tâm của người ấy không bị chiếm giữ. Do tâm không bị chiếm giữ, người ấy không sợ hãi, không phiền muộn, và không luyến tiếc; và do không chấp thủ nên không lo âu.
Na vedanaṁ attato samanupassati, na vedanāvantaṁ vā attānaṁ; na attani vā vedanaṁ, na vedanāya vā attānaṁ. Tassa sā vedanā vipariṇamati aññathā hoti. Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā na vedanāvipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa na vedanāvipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā na cevuttāsavā hoti na ca vighātavā na ca apekkhavā, anupādāya ca na paritassati.
They don’t regard feeling as self …
Vị ấy không quán thọ là tự ngã, không quán tự ngã có thọ, không quán thọ ở trong tự ngã, không quán tự ngã ở trong thọ. Thọ ấy của người ấy biến hoại và trở nên khác đi. Do thọ biến hoại và trở nên khác đi, thức của người ấy không khởi lên theo sự biến hoại của thọ. Do các pháp lo âu không sanh khởi từ sự không khởi lên theo sự biến hoại của thọ, tâm của người ấy không bị chiếm giữ. Do tâm không bị chiếm giữ, người ấy không sợ hãi, không phiền muộn, và không luyến tiếc; và do không chấp thủ nên không lo âu.
Na saññaṁ …pe… na saṅkhāre attato samanupassati,
na attani vā saṅkhāre, na saṅkhāresu vā attānaṁ. na saṅkhāravantaṁ vā attānaṁ; Tassa te saṅkhārā vipariṇamanti aññathā honti. Tassa saṅkhāravipariṇāmaññathābhāvā na saṅkhāravipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa na saṅkhāravipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā na cevuttāsavā hoti na ca vighātavā na ca apekkhavā, anupādāya ca na paritassati.
They don’t regard perception as self …
They don’t regard choices as self …
“Vị ấy không quán xét tưởng… (như trên)… không quán xét các hành là tự ngã, không quán xét tự ngã là cái có các hành, không quán xét các hành ở trong tự ngã, không quán xét tự ngã ở trong các hành. Các hành ấy của vị ấy bị biến hoại, trở thành khác đi. Do các hành bị biến hoại, trở thành khác đi, thức của vị ấy không sanh khởi theo sự biến hoại của các hành. Do thức không sanh khởi theo sự biến hoại của các hành, các sự lo âu và các pháp (bất thiện) sanh khởi không xâm chiếm và tồn tại trong tâm của vị ấy. Do tâm không bị xâm chiếm, vị ấy không hoảng hốt, không phiền muộn, không luyến tiếc, và do không chấp thủ nên không lo âu.”
Na viññāṇaṁ attato samanupassati, na viññāṇavantaṁ vā attānaṁ …pe… tassa taṁ viññāṇaṁ vipariṇamati aññathā hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā na viññāṇavipariṇāmānuparivatti viññāṇaṁ hoti. Tassa na viññāṇavipariṇāmānuparivattijā paritassanā dhammasamuppādā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhanti. Cetaso apariyādānā na cevuttāsavā hoti na ca vighātavā na ca apekkhavā, anupādāya ca na paritassati. Evaṁ kho, bhikkhave, anupādā aparitassanaṁ hotī”ti.
Sattamaṁ.
They don’t regard consciousness as self … When that consciousness of theirs decays and perishes, consciousness doesn’t latch on to the perishing of consciousness. Anxieties—born of latching on to the perishing of consciousness and originating in accordance with natural principles—don’t occupy their mind. So they don’t become frightened, worried, concerned, or anxious because of grasping. That’s how not grasping leads to freedom from anxiety.”
“Vị ấy không quán xét thức là tự ngã, không quán xét tự ngã là cái có thức… (như trên)… Thức ấy của vị ấy bị biến hoại, trở thành khác đi. Do thức bị biến hoại, trở thành khác đi, thức của vị ấy không sanh khởi theo sự biến hoại của thức. Do thức không sanh khởi theo sự biến hoại của thức, các sự lo âu và các pháp (bất thiện) sanh khởi không xâm chiếm và tồn tại trong tâm của vị ấy. Do tâm không bị xâm chiếm, vị ấy không hoảng hốt, không phiền muộn, không luyến tiếc, và do không chấp thủ nên không lo âu. Này các Tỷ kheo, như vậy là không lo âu do không chấp thủ.”