- Saṁyutta Nikāya 22.63
- 7. Arahantavagga
Upādiyamānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Upādiyamānasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Ai chấp trước, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.
—Bạch Thế Tôn, con đã hiểu, bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
Vi-n 5 —Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt?
—Ai chấp trước sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước tưởng … Ai chấp trước các hành … Ai chấp trước thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 6 —Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Như vậy Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời nói vắn tắt này của Ta. Ai chấp trước sắc, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ … Ai chấp trước tưởng … Ai chấp trước các hành … Ai chấp trước thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Vi-n 7 Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và ra đi.
Vi-n 8 Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, vì mục đích gì mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mong cầu chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh; vị ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy chứng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Upādiyamāna
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Upādiyamāno kho, bhikkhu, baddho mārassa; anupādiyamāno mutto pāpimato”ti.
“Aññātaṁ bhagavā, aññātaṁ sugatā”ti.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
“When you grasp, mendicant, you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One.”
“Understood, Blessed One! Understood, Holy One!”
63. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, một vị Tỳ khưu nào đó đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn rằng: 'Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn thuyết pháp cho con một cách tóm tắt, để sau khi nghe pháp từ đức Thế Tôn, con có thể sống một mình, nơi vắng vẻ, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.' 'Này Tỳ khưu, khi chấp thủ thì bị Ma vương trói buộc; khi không chấp thủ thì được giải thoát khỏi Ác ma.' 'Con đã hiểu, bạch đức Thế Tôn; con đã hiểu, bạch đức Thiện Thệ.'
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāsī”ti?
“Rūpaṁ kho, bhante, upādiyamāno baddho mārassa; anupādiyamāno mutto pāpimato. Vedanaṁ upādiyamāno baddho mārassa; anupādiyamāno mutto pāpimato. Saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ upādiyamāno baddho mārassa; anupādiyamāno mutto pāpimato.
Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“But how do you see the detailed meaning of my brief statement?”
“Sir, when you grasp form you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One. When you grasp feeling … perception … choices … consciousness, you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One.
That’s how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.”
‘Này Tỳ khưu, vậy ngươi hiểu ý nghĩa chi tiết của lời ta nói tóm tắt như thế nào?’ ‘Bạch ngài, khi chấp thủ sắc thì bị Ma vương trói buộc; khi không chấp thủ thì được giải thoát khỏi Ác ma. Khi chấp thủ thọ thì bị Ma vương trói buộc; khi không chấp thủ thì được giải thoát khỏi Ác ma. Tưởng… các hành… thức, khi chấp thủ thì bị Ma vương trói buộc; khi không chấp thủ thì được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch ngài, con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời đức Thế Tôn nói tóm tắt là như vậy.’
“Sādhu sādhu, bhikkhu. Sādhu kho tvaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāsi.
Rūpaṁ kho, bhikkhu, upādiyamāno baddho mārassa; anupādiyamāno mutto pāpimato. Vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ upādiyamāno baddho mārassa; anupādiyamāno mutto pāpimato.
Imassa kho, bhikkhu, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
“Good, good, mendicant! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.
When you grasp form you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One. When you grasp feeling … perception … choices … consciousness, you’re bound by Māra. Not grasping, you’re free from the Wicked One.
This is how to see the detailed meaning of what I said in brief.”
‘Lành thay, lành thay, này Tỳ khưu! Lành thay, này Tỳ khưu, ngươi đã hiểu rõ ý nghĩa chi tiết của lời ta nói tóm tắt. Này Tỳ khưu, khi chấp thủ sắc thì bị Ma vương trói buộc; khi không chấp thủ thì được giải thoát khỏi Ác ma. Thọ… tưởng… các hành… thức, khi chấp thủ thì bị Ma vương trói buộc; khi không chấp thủ thì được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỳ khưu, ý nghĩa chi tiết của lời ta nói tóm tắt này nên được hiểu là như vậy.’
Atha kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho so bhikkhu eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca pana so bhikkhu arahataṁ ahosīti.
Paṭhamaṁ.
And then that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Then that mendicant, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And that mendicant became one of the perfected.
Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh thân ngài rồi ra đi. Rồi vị tỳ khưu ấy, sống một mình, nơi vắng vẻ, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì mục đích ấy các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Và vị tỳ khưu ấy đã trở thành một vị A-la-hán. (Kinh) thứ nhất.