- Saṁyutta Nikāya 22.62
- 6. Upayavagga
Bản dịch
SN 22.62 — Kinh Ngôn Ngữ
Niruttipathasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn, nay không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. Thế nào là ba?
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; sắc ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Sắc ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.
Vi-n 5 Phàm thọ gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thọ ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Thọ ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.
Vi-n 6 Phàm tưởng gì đã qua …
Vi-n 7 Phàm các hành gì đã qua …
Vi-n 8 Phàm thức gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thức ấy được xác nhận là “đã có”, được xưng danh là “đã có”, được thi thiết là “đã có”. Thức ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “sẽ có”.
Vi-n 9 Phàm sắc gì chưa sanh, chưa hiện hữu; sắc ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Sắc ấy không được xác nhận là “hiện có”, không được xác nhận là “đã có”.
Vi-n 10 Phàm thọ gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thọ ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Thọ ấy không được xác nhận là “hiện có”, thọ ấy không được xác nhận là “đã có”.
Vi-n 11 Phàm tưởng gì …
Vi-n 12 Phàm các hành gì …
Vi-n 13 Phàm thức gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thức ấy được xác nhận là “sẽ có”, được xưng danh là “sẽ có”, được thi thiết là “sẽ có”. Thức ấy không được xác nhận là “hiện có”, thức ấy không được xác nhận là “đã có”.
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã sanh, đã hiện hữu; sắc ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Sắc ấy không được xác nhận là “đã có”, không được xác nhận là “sẽ có”.
Vi-n 15 Phàm thọ gì đã sanh, đã hiện hữu; thọ ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Thọ ấy không được xác nhận là “đã có”, không được xác nhận là “sẽ có”.
Vi-n 16 Phàm tưởng gì …
Vi-n 17 Phàm các hành gì …
Vi-n 18 Phàm thức gì đã sanh, đã hiện hữu; thức ấy được xác nhận là “hiện có”, được xưng danh là “hiện có”, được thi thiết là “hiện có”. Thức ấy không được xác nhận là “đã có”, thức ấy không được xác nhận là “sẽ có”.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn, nay không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
Vi-n 20 Tuy vậy, dân chúng ở Ukkali, những vị thuyết pháp trong thời an cư mùa mưa, các vị vô nhân luận giả, các vị vô tác luận giả, các vị vô hữu luận giả, những vị ấy cũng không có nghĩ rằng ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ này không đáng quở trách, không đáng khinh miệt. Vì sao? Vì rằng, họ sợ quở trách, công kích, phẫn nộ, chỉ trích.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.62
- 6. Involvement
The Scope of Definition
10. Kinh Ngôn Ngữ
Sāvatthinidānaṁ.
“Tayome, bhikkhave, niruttipathā adhivacanapathā paññattipathā asaṅkiṇṇā asaṅkiṇṇapubbā, na saṅkīyanti, na saṅkīyissanti, appaṭikuṭṭhā samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi. Katame tayo? Yaṁ, bhikkhave, rūpaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ ‘ahosī’ti tassa saṅkhā, ‘ahosī’ti tassa samaññā, ‘ahosī’ti tassa paññatti; na tassa saṅkhā ‘atthī’ti, na tassa saṅkhā ‘bhavissatī’ti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are these three scopes of definition, labeling, and description. They’re uncorrupted, as they have been since the beginning. They’re not being corrupted now, nor will they be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on them. What three? When form has passed, ceased, and perished, its designation, label, and description is ‘was’. It’s not ‘is’ or ‘will be’.
62. Nhân ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, có ba cách ngôn ngữ, cách gọi tên, cách chế định này không bị lẫn lộn, từ xưa không bị lẫn lộn, hiện tại không bị lẫn lộn, và tương lai sẽ không bị lẫn lộn, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn bậc trí bác bỏ. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, sắc nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại, thì được kể là ‘đã có’, được gọi là ‘đã có’, được chế định là ‘đã có’; chứ không được kể là ‘hiện có’, không được kể là ‘sẽ có’.”
Yā vedanā atītā niruddhā vipariṇatā ‘ahosī’ti tassā saṅkhā, ‘ahosī’ti tassā samaññā, ‘ahosī’ti tassā paññatti; na tassā saṅkhā ‘atthī’ti, na tassā saṅkhā ‘bhavissatī’ti.
Yā saññā …
When feeling …
perception …
“Thọ nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại, thì được kể là ‘đã có’, được gọi là ‘đã có’, được chế định là ‘đã có’; chứ không được kể là ‘hiện có’, không được kể là ‘sẽ có’.”
ye saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā ‘ahesun’ti tesaṁ saṅkhā, ‘ahesun’ti tesaṁ samaññā, ‘ahesun’ti tesaṁ paññatti; na tesaṁ saṅkhā ‘atthī’ti, na tesaṁ saṅkhā ‘bhavissantī’ti.
choices …
“Tưởng nào... Các hành nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại, thì được kể là ‘đã có’, được gọi là ‘đã có’, được chế định là ‘đã có’; chứ không được kể là ‘hiện có’, không được kể là ‘sẽ có’.”
Yaṁ viññāṇaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ, ‘ahosī’ti tassa saṅkhā, ‘ahosī’ti tassa samaññā, ‘ahosī’ti tassa paññatti; na tassa saṅkhā ‘atthī’ti, na tassa saṅkhā ‘bhavissatī’ti.
consciousness has passed, ceased, and perished, its designation, label, and description is ‘was’. It’s not ‘is’ or ‘will be’.
Thức nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại, thức ấy được gọi là 'đã là', được mệnh danh là 'đã là', được chế định là 'đã là'; thức ấy không được gọi là 'đang là', không được gọi là 'sẽ là'.
Yaṁ, bhikkhave, rūpaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ, ‘bhavissatī’ti tassa saṅkhā, ‘bhavissatī’ti tassa samaññā, ‘bhavissatī’ti tassa paññatti; na tassa saṅkhā ‘atthī’ti, na tassa saṅkhā ‘ahosī’ti.
When form is not yet born, and has not yet appeared, its designation, label, and description is ‘will be’. It’s not ‘is’ or ‘was’.
Này các Tỳ khưu, sắc nào chưa sanh, chưa xuất hiện, sắc ấy được gọi là 'sẽ là', được mệnh danh là 'sẽ là', được chế định là 'sẽ là'; sắc ấy không được gọi là 'đang là', không được gọi là 'đã là'.
Yā vedanā ajātā apātubhūtā, ‘bhavissatī’ti tassā saṅkhā, ‘bhavissatī’ti tassā samaññā, ‘bhavissatī’ti tassā paññatti; na tassā saṅkhā ‘atthī’ti, na tassā saṅkhā ‘ahosī’ti.
Yā saññā …
When feeling …
perception …
Thọ nào chưa sanh, chưa xuất hiện, thọ ấy được gọi là 'sẽ là', được mệnh danh là 'sẽ là', được chế định là 'sẽ là'; thọ ấy không được gọi là 'đang là', không được gọi là 'đã là'.
ye saṅkhārā ajātā apātubhūtā, ‘bhavissantī’ti tesaṁ saṅkhā, ‘bhavissantī’ti tesaṁ samaññā, ‘bhavissantī’ti tesaṁ paññatti; na tesaṁ saṅkhā ‘atthī’ti, na tesaṁ saṅkhā ‘ahesun’ti.
choices …
Tưởng nào… các hành nào chưa sanh, chưa xuất hiện, chúng được gọi là 'sẽ là', được mệnh danh là 'sẽ là', được chế định là 'sẽ là'; chúng không được gọi là 'đang là', không được gọi là 'đã là'.
Yaṁ viññāṇaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ, ‘bhavissatī’ti tassa saṅkhā, ‘bhavissatī’ti tassa samaññā, ‘bhavissatī’ti tassa paññatti; na tassa saṅkhā ‘atthī’ti, na tassa saṅkhā ‘ahosī’ti.
consciousness is not yet born, and has not yet appeared, its designation, label, and description is ‘will be’. It’s not ‘is’ or ‘was’.
Thức nào chưa sanh, chưa xuất hiện, thức ấy được gọi là 'sẽ là', được mệnh danh là 'sẽ là', được chế định là 'sẽ là'; thức ấy không được gọi là 'đang là', không được gọi là 'đã là'.
Yaṁ, bhikkhave, rūpaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ, ‘atthī’ti tassa saṅkhā, ‘atthī’ti tassa samaññā, ‘atthī’ti tassa paññatti; na tassa saṅkhā ‘ahosī’ti, na tassa saṅkhā ‘bhavissatī’ti.
When form has been born, and has appeared, its designation, label, and description is ‘is’. It’s not ‘was’ or ‘will be’.
Này các Tỳ khưu, sắc nào đã sanh, đã xuất hiện, sắc ấy được gọi là 'đang là', được mệnh danh là 'đang là', được chế định là 'đang là'; sắc ấy không được gọi là 'đã là', không được gọi là 'sẽ là'.
Yā vedanā jātā pātubhūtā, ‘atthī’ti tassā saṅkhā, ‘atthī’ti tassā samaññā, ‘atthī’ti tassā paññatti; na tassā saṅkhā ‘ahosī’ti, na tassā saṅkhā ‘bhavissatī’ti.
Yā saññā …
When feeling …
perception …
Thọ nào đã sanh, đã xuất hiện, thọ ấy được gọi là 'đang là', được mệnh danh là 'đang là', được chế định là 'đang là'; thọ ấy không được gọi là 'đã là', không được gọi là 'sẽ là'.
ye saṅkhārā jātā pātubhūtā, ‘atthī’ti tesaṁ saṅkhā, ‘atthī’ti tesaṁ samaññā, ‘atthī’ti tesaṁ paññatti; na tesaṁ saṅkhā ‘ahesun’ti, na tesaṁ saṅkhā, ‘bhavissantī’ti.
choices …
Tưởng nào… các hành nào đã sanh, đã xuất hiện, chúng được gọi là 'đang là', được mệnh danh là 'đang là', được chế định là 'đang là'; chúng không được gọi là 'đã là', không được gọi là 'sẽ là'.
Yaṁ viññāṇaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ, ‘atthī’ti tassa saṅkhā, ‘atthī’ti tassa samaññā, ‘atthī’ti tassa paññatti; na tassa saṅkhā ‘ahosī’ti, na tassa saṅkhā ‘bhavissatī’ti.
consciousness has been born, and has appeared, its designation, label, and description is ‘is’. It’s not ‘was’ or ‘will be’.
Thức nào đã sanh, đã xuất hiện, thức ấy được gọi là 'đang là', được mệnh danh là 'đang là', được chế định là 'đang là'; thức ấy không được gọi là 'đã là', không được gọi là 'sẽ là'.
Ime kho, bhikkhave, tayo niruttipathā adhivacanapathā paññattipathā asaṅkiṇṇā asaṅkiṇṇapubbā, na saṅkīyanti, na saṅkīyissanti, appaṭikuṭṭhā samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi.
Yepi te, bhikkhave, ahesuṁ ukkalā vassabhaññā ahetukavādā akiriyavādā natthikavādā, tepime tayo niruttipathe adhivacanapathe paññattipathe na garahitabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ amaññiṁsu. Taṁ kissa hetu? Nindāghaṭṭanabyārosaupārambhabhayā”ti.
Majjhimapaṇṇāsakassa upayavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
These are the three scopes of definition, labeling, and description. They’re uncorrupted, as they have been since the beginning. They’re not being corrupted now, nor will they be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on them.
Even those who were loud and bold advocates of the doctrines of no-cause, inaction, and nihilism, didn’t imagine that these three scopes of definition should be criticized or rejected. Why is that? For fear of being blamed, attacked, provoked, and faulted.”
Này các Tỳ khưu, ba loại này là ngữ đạo, danh đạo, và chế định đạo, không bị pha tạp, từ xưa không bị pha tạp, hiện tại không bị pha tạp, tương lai sẽ không bị pha tạp, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí bác bỏ. Này các Tỳ khưu, ngay cả những người dân xứ Ukkalā tên là Vassa và Bhañña, những người theo thuyết vô nhân, thuyết vô tác, thuyết vô hữu, cũng không cho rằng ba loại này là ngữ đạo, danh đạo, và chế định đạo đáng bị khiển trách, đáng bị bác bỏ. Vì lý do gì? Vì sợ bị khiển trách, công kích, phiền nhiễu, và chỉ trích.
Upayo bījaṁ udānaṁ, Upādānaparivattaṁ; Sattaṭṭhānañca sambuddho, Pañcamahāli ādittā; Vaggo niruttipathena cāti.
Upāya, Bīja, Udāna, Upādānaparivatta; Sattaṭṭhāna và Sambuddha, Mahāli, Ādittā. Phẩm cùng với kinh Niruttipatha.