- Saṁyutta Nikāya 22.59
- 6. Upayavagga
Bản dịch
SN 22.59 — Kinh Vô Ngã Tướng
Anattalakkhaṇasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Bārānasī (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2 Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: “Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!”
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: “Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!”
Vi-n 5 Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được các thọ như sau: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!”
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, vì thọ là vô ngã. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: “Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!”
Vi-n 7 Tưởng là vô ngã …
Vi-n 8 Các hành là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu các hành là ngã, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!”
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, vì các hành là vô ngã. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: “Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!”
Vi-n 10 Thức là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu thức là ngã, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được các thức như sau: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!”
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, vì thức là vô ngã. Do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: “Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!”
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn!
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: ” Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 13-15. —Thọ … Tưởng … Các hành …
Vi-n 16 Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17 —Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 18 Phàm thọ gì …
Vi-n 19 Phàm tưởng gì …
Vi-n 20 Phàm các hành gì …
Vi-n 21 Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 22 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 23 Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.59
- 6. Involvement
The Characteristic of Not-Self
7. Kinh Vô Ngã Tướng
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye. Tatra kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Varanasi in the deer park at Isipatana. There the Buddha addressed the group of five mendicants:
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
59. Một thời, Thế Tôn trú ở Bārāṇasī, tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Tại đó, Thế Tôn đã gọi nhóm năm vị Tỳ khưu: – Này các Tỳ khưu. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Rūpaṁ, bhikkhave, anattā. Rūpañca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṁ rūpaṁ ābādhāya saṁvatteyya, labbhetha ca rūpe: ‘evaṁ me rūpaṁ hotu, evaṁ me rūpaṁ mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, rūpaṁ anattā, tasmā rūpaṁ ābādhāya saṁvattati, na ca labbhati rūpe: ‘evaṁ me rūpaṁ hotu, evaṁ me rūpaṁ mā ahosī’ti.
“Mendicants, form is not-self. For if form were self, it wouldn’t lead to affliction. And you could compel form: ‘May my form be like this! May it not be like that!’ But because form is not-self, it leads to affliction. And you can’t compel form: ‘May my form be like this! May it not be like that!’
Này các Tỳ khưu, sắc là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu sắc này là tự ngã, thì sắc này sẽ không dẫn đến bệnh hoạn, và người ta có thể có được quyền năng đối với sắc rằng: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng như thế này.’ Và này các Tỳ khưu, vì sắc là vô ngã, nên sắc dẫn đến bệnh hoạn, và người ta không có được quyền năng đối với sắc rằng: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng như thế này.’
Vedanā anattā. Vedanā ca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṁ vedanā ābādhāya saṁvatteyya, labbhetha ca vedanāya: ‘evaṁ me vedanā hotu, evaṁ me vedanā mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, vedanā anattā, tasmā vedanā ābādhāya saṁvattati, na ca labbhati vedanāya: ‘evaṁ me vedanā hotu, evaṁ me vedanā mā ahosī’ti.
Feeling is not-self …
“Thọ là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu thọ này là ngã, thì thọ này sẽ không đi đến khổ não, và người ta có thể có được quyền năng đối với thọ rằng: ‘Mong rằng thọ của tôi hãy như thế này, mong rằng thọ của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì thọ là vô ngã, nên thọ đi đến khổ não, và người ta không thể có được quyền năng đối với thọ rằng: ‘Mong rằng thọ của tôi hãy như thế này, mong rằng thọ của tôi đừng như thế kia.’”
Saññā anattā …pe…
saṅkhārā anattā. Saṅkhārā ca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissaṁsu, nayidaṁ saṅkhārā ābādhāya saṁvatteyyuṁ, labbhetha ca saṅkhāresu: ‘evaṁ me saṅkhārā hontu, evaṁ me saṅkhārā mā ahesun’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, saṅkhārā anattā, tasmā saṅkhārā ābādhāya saṁvattanti, na ca labbhati saṅkhāresu: ‘evaṁ me saṅkhārā hontu, evaṁ me saṅkhārā mā ahesun’ti.
Perception is not-self …
Choices are not-self …
“Tưởng là vô ngã… … Các hành là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu các hành này là ngã, thì các hành này sẽ không đi đến khổ não, và người ta có thể có được quyền năng đối với các hành rằng: ‘Mong rằng các hành của tôi hãy như thế này, mong rằng các hành của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì các hành là vô ngã, nên các hành đi đến khổ não, và người ta không thể có được quyền năng đối với các hành rằng: ‘Mong rằng các hành của tôi hãy như thế này, mong rằng các hành của tôi đừng như thế kia.’”
Viññāṇaṁ anattā. Viññāṇañca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṁ viññāṇaṁ ābādhāya saṁvatteyya, labbhetha ca viññāṇe: ‘evaṁ me viññāṇaṁ hotu, evaṁ me viññāṇaṁ mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, viññāṇaṁ anattā, tasmā viññāṇaṁ ābādhāya saṁvattati, na ca labbhati viññāṇe: ‘evaṁ me viññāṇaṁ hotu, evaṁ me viññāṇaṁ mā ahosī’ti.
Consciousness is not-self. For if consciousness were self, it wouldn’t lead to affliction. And you could compel consciousness: ‘May my consciousness be like this! May it not be like that!’ But because consciousness is not-self, it leads to affliction. And you can’t compel consciousness: ‘May my consciousness be like this! May it not be like that!’
“Thức là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu thức này là ngã, thì thức này sẽ không đi đến khổ não, và người ta có thể có được quyền năng đối với thức rằng: ‘Mong rằng thức của tôi hãy như thế này, mong rằng thức của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì thức là vô ngã, nên thức đi đến khổ não, và người ta không thể có được quyền năng đối với thức rằng: ‘Mong rằng thức của tôi hãy như thế này, mong rằng thức của tôi đừng như thế kia.’”
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
What do you think, mendicants? Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling permanent or impermanent?” …
“Is perception permanent or impermanent?” …
“Are choices permanent or impermanent?” …
“Is consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét nó rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Bạch Thế Tôn, không hợp lý.” – “Thọ… tưởng… các hành… thức là thường hay vô thường?” – “Bạch Thế Tôn, là vô thường.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Bạch Thế Tôn, là khổ.” – “Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét nó rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Bạch Thế Tôn, không hợp lý.”
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā ajjhattā vā bahiddhā vā …pe… yā dūre santike vā, sabbā vedanā: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
“So you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Any kind of feeling at all …
“Do đó, này các Tỳ khưu, bất cứ sắc nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc cần phải được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài… … xa hay gần, tất cả thọ cần phải được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’”
Yā kāci saññā …pe…
ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā …pe… ye dūre santike vā, sabbe saṅkhārā: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Any kind of perception at all …
Any kind of choices at all …
“Bất cứ tưởng nào… … Bất cứ các hành nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài… … xa hay gần, tất cả các hành cần phải được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’”
Yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ: ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
You should truly see any kind of consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
“Bất cứ thức nào, dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thức cần phải được thấy như thật bằng chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi.’”
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này các Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử đã nghe nhiều liền nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham; do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinanduṁ.
That is what the Buddha said. Satisfied, the group of five mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Nhóm năm vị Tỳ khưu hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Sattamaṁ.
Và trong khi bài pháp giải này đang được thuyết giảng, tâm của nhóm năm vị Tỳ khưu, do không còn chấp thủ, đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Kinh thứ bảy.