- Saṁyutta Nikāya 22.58
- 6. Upayavagga
Bản dịch
SN 22.58 — Kinh Chánh Đẳng Giác
Sammāsambuddhasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
Vi-n 4 Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
Vi-n 5-7. Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt tưởng … đoạn diệt các hành … đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
Vi-n 8 Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sai biệt, thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự sai khác giữa bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ?
Vi-n 9 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu được Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì!
—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 10 Thế Tôn nói như sau:
—Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn nay, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.58
- 6. Involvement
The Fully Awakened Buddha
6. Kinh Chánh Đẳng Giác
Sāvatthinidānaṁ.
“Tathāgato, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho rūpassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto sammāsambuddhoti vuccati. Bhikkhupi, bhikkhave, paññāvimutto rūpassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto paññāvimuttoti vuccati.
At Sāvatthī.
“Mendicants, a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha is freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form. They’re called a fully awakened Buddha. A mendicant freed by wisdom is also freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form. They’re called a mendicant freed by wisdom.
58. Nhân ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt sắc, nên được giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu được giải thoát bằng trí tuệ, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt sắc, nên được giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc giải thoát bằng trí tuệ.
Tathāgato, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho vedanāya nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto sammāsambuddhoti vuccati. Bhikkhupi, bhikkhave, paññāvimutto vedanāya nibbidā …pe… paññāvimuttoti vuccati.
A Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha is freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding feeling …
Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt thọ, nên được giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu được giải thoát bằng trí tuệ, do nhàm chán thọ... cho đến... được gọi là bậc giải thoát bằng trí tuệ.
Tathāgato, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho saññāya …
saṅkhārānaṁ …
viññāṇassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto sammāsambuddhoti vuccati. Bhikkhupi, bhikkhave, paññāvimutto viññāṇassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto paññāvimuttoti vuccati.
perception …
choices …
consciousness. They’re called a fully awakened Buddha. A mendicant freed by wisdom is also freed by not grasping, due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness. They’re called a mendicant freed by wisdom.
Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do nhàm chán... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, do ly tham, đoạn diệt, nên được giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc Chánh Đẳng Giác. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu được giải thoát bằng trí tuệ, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt thức, nên được giải thoát không còn chấp thủ, được gọi là bậc giải thoát bằng trí tuệ.
Tatra kho, bhikkhave, ko viseso, ko adhippayāso, kiṁ nānākaraṇaṁ, tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa paññāvimuttena bhikkhunā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaññeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
What, then, is the difference between a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha, and a mendicant freed by wisdom?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
Này các Tỳ khưu, ở đây, có sự đặc biệt gì, có sự khác biệt gì, có sự sai khác gì giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và vị Tỳ khưu được giải thoát bằng trí tuệ? – Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Thế Tôn làm nơi nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong rằng chính Thế Tôn hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ. – Vậy thì, này các Tỳ khưu, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỳ khưu ấy đã vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn đã nói điều này:
“Tathāgato, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā maggaññū, maggavidū, maggakovido; maggānugā ca, bhikkhave, etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā.
Ayaṁ kho, bhikkhave, viseso, ayaṁ adhippayāso, idaṁ nānākaraṇaṁ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa paññāvimuttena bhikkhunā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path. And now the disciples live following the path; they acquire it later.
This is the difference between a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha, and a mendicant freed by wisdom.”
Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, là bậc làm phát sanh con đường chưa từng phát sanh, là bậc làm cho biết con đường chưa từng được biết, là bậc tuyên thuyết con đường chưa từng được tuyên thuyết, là bậc biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo. Và này các Tỳ khưu, hiện nay các đệ tử là những người đi theo con đường, thành tựu sau đó. Này các Tỳ khưu, đây chính là sự đặc biệt, đây chính là sự khác biệt, đây chính là sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và vị Tỳ khưu được giải thoát bằng trí tuệ.