- Saṁyutta Nikāya 22.57
- 6. Upayavagga
Bản dịch
SN 22.57 — Kinh Bảy Trường Hợp
Sattaṭṭhānasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, này các Tỷ-kheo, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một bậc tối thượng nhân.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ?
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo biết rõ (pajànati) sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, biết rõ vị ngọt của sắc, biết rõ sự nguy hiểm của sắc, biết rõ sự xuất ly của sắc.
Vi-n 6-8. … biết rõ thọ … biết rõ tưởng … biết rõ các hành …
Vi-n 9 … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt, biết rõ vị ngọt của thức, biết rõ sự nguy hiểm của thức, biết rõ sự xuất ly của thức.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là sắc. Do các món ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các món ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến sắc đoạn diệt, tức là chánh tri kiến … chánh định …
Vi-n 11 Duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đây là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn tận dục tham đối với sắc, đây là sự xuất ly của sắc.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 14 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: Thọ do nhãn xúc sanh … thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 15 Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ, đây gọi là sự xuất ly của thọ.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thọ là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thọ là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thọ là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy … thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 18-20. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt … thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 21 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các hành? Này các Tỷ-kheo, có sáu tư thân: Sắc tư … pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là các hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 22 Do duyên hành khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của hành. Các hành vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của hành. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với các hành, đây là sự xuất ly của các hành.
Vi-n 23-24. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này … Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 25 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có sáu thức thân này: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt đối với thức, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 26 Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của thức. Thức vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thức, đây là sự xuất ly của thức.
Vi-n 27 Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy; họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thức. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
Vi-n 28 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, họ giải thoát, không chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 29 Này các Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ.
Vi-n 30 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là vị Tỷ-kheo quán sát theo ba cách? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát theo giới, quán sát theo xứ, quán sát theo duyên khởi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát theo ba cách.
Vi-n 31 Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một vị tối thượng nhân.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.57
- 6. Involvement
Seven Cases
5. Kinh Bảy Trường Hợp
Sāvatthinidānaṁ.
“Sattaṭṭhānakusalo, bhikkhave, bhikkhu tividhūpaparikkhī imasmiṁ dhammavinaye kevalī vusitavā uttamapurisoti vuccati.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sattaṭṭhānakusalo hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu rūpaṁ pajānāti, rūpasamudayaṁ pajānāti, rūpanirodhaṁ pajānāti, rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti; rūpassa assādaṁ pajānāti, rūpassa ādīnavaṁ pajānāti, rūpassa nissaraṇaṁ pajānāti; vedanaṁ pajānāti … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ pajānāti, viññāṇasamudayaṁ pajānāti, viññāṇanirodhaṁ pajānāti, viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti; viññāṇassa assādaṁ pajānāti, viññāṇassa ādīnavaṁ pajānāti, viññāṇassa nissaraṇaṁ pajānāti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, in this teaching and training a mendicant who is skilled in seven cases and who examines in three ways is called consummate, accomplished, a supreme person.
And how is a mendicant skilled in seven cases? It’s when a mendicant understands form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They understand form’s gratification, drawback, and escape. They understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They understand consciousness’s gratification, drawback, and escape.
57. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thiện xảo trong bảy trường hợp, quán xét theo ba cách, trong Pháp và Luật này, được gọi là bậc toàn hảo, đã sống đời phạm hạnh, là bậc tối thượng. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu thiện xảo trong bảy trường hợp? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu biết rõ sắc, biết rõ sự tập khởi của sắc, biết rõ sự đoạn diệt của sắc, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc; biết rõ vị ngọt của sắc, biết rõ sự nguy hại của sắc, biết rõ sự xuất ly khỏi sắc; biết rõ thọ... biết rõ tưởng... biết rõ các hành... biết rõ thức, biết rõ sự tập khởi của thức, biết rõ sự đoạn diệt của thức, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức; biết rõ vị ngọt của thức, biết rõ sự nguy hại của thức, biết rõ sự xuất ly khỏi thức.”
Katamañca, bhikkhave, rūpaṁ? Cattāro ca mahābhūtā, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāya rūpaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, rūpaṁ. Āhārasamudayā rūpasamudayo; āhāranirodhā rūpanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo rūpanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is form? The four principal states, and form derived from the four principal states. This is called form. Form originates from fuel. When fuel ceases, form ceases. The practice that leads to the cessation of form is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, sắc là gì? Bốn đại chủng và sắc được tạo ra từ bốn đại chủng. Này các Tỳ khưu, cái này được gọi là sắc. Do sự sanh khởi của vật thực nên có sự sanh khởi của sắc; do sự đoạn diệt của vật thực nên có sự đoạn diệt của sắc. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của sắc, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.
Yaṁ rūpaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ rūpassa assādo. Yaṁ rūpaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ rūpassa ādīnavo. Yo rūpasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ rūpassa nissaraṇaṁ.
The pleasure and happiness that arise from form: this is its gratification. That form is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for form: this is its escape.
Sự lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên sắc – đây là vị ngọt của sắc. Sắc nào là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại – đây là sự nguy hại của sắc. Sự nhiếp phục dục tham, sự từ bỏ dục tham đối với sắc – đây là sự xuất ly khỏi sắc.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ rūpaṁ abhiññāya, evaṁ rūpasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ rūpanirodhaṁ abhiññāya, evaṁ rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya; evaṁ rūpassa assādaṁ abhiññāya, evaṁ rūpassa ādīnavaṁ abhiññāya, evaṁ rūpassa nissaraṇaṁ abhiññāya rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā, te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti.
Those ascetics and brahmins who have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form: they are practicing well. Those who practice well have a footing in this teaching and training.
Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri sắc như vậy, thắng tri sự sanh khởi của sắc như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của sắc như vậy, thắng tri con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của sắc như vậy; thắng tri vị ngọt của sắc như vậy, thắng tri sự nguy hại của sắc như vậy, thắng tri sự xuất ly khỏi sắc như vậy, rồi thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, họ là những người thực hành chân chánh. Những ai thực hành chân chánh, họ có được chỗ đứng vững chắc trong Pháp và Luật này.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ rūpaṁ abhiññāya, evaṁ rūpasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ rūpanirodhaṁ abhiññāya, evaṁ rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya; evaṁ rūpassa assādaṁ abhiññāya, evaṁ rūpassa ādīnavaṁ abhiññāya, evaṁ rūpassa nissaraṇaṁ abhiññāya rūpassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimuttā, te suvimuttā. Ye suvimuttā, te kevalino. Ye kevalino vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
Those ascetics and brahmins who have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found.
Và này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri sắc như vậy, thắng tri sự sanh khởi của sắc như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của sắc như vậy, thắng tri con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của sắc như vậy; thắng tri vị ngọt của sắc như vậy, thắng tri sự nguy hại của sắc như vậy, thắng tri sự xuất ly khỏi sắc như vậy, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát không còn chấp thủ, họ là những người được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ là những bậc toàn hảo. Những ai là bậc toàn hảo, đối với họ không có vòng luân hồi để có thể tuyên bố.
Katamā ca, bhikkhave, vedanā? Chayime, bhikkhave, vedanākāyā—cakkhusamphassajā vedanā …pe… manosamphassajā vedanā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, vedanā. Phassasamudayā vedanāsamudayo; phassanirodhā vedanānirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo vedanānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is feeling? There are these six classes of feeling: feeling born of eye contact … feeling born of mind contact. This is called feeling. Feeling originates from contact. When contact ceases, feeling ceases. The practice that leads to the cessation of feelings is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, thọ là gì? Này các Tỳ khưu, có sáu nhóm thọ này: thọ sanh do nhãn xúc... cho đến... thọ sanh do ý xúc. Này các Tỳ khưu, cái này được gọi là thọ. Do sự sanh khởi của xúc nên có sự sanh khởi của thọ; do sự đoạn diệt của xúc nên có sự đoạn diệt của thọ. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của thọ, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.
Yaṁ vedanaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ vedanāya assādo. Yā vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā—ayaṁ vedanāya ādīnavo. Yo vedanāya chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ vedanāya nissaraṇaṁ.
The pleasure and happiness that arise from feeling: this is its gratification. That feeling is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for feeling: this is its escape. …
Sự lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên thọ – đây là vị ngọt của thọ. Thọ nào là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại – đây là sự nguy hại của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự từ bỏ dục tham đối với thọ – đây là sự xuất ly khỏi thọ.
Ye hi, keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ vedanaṁ abhiññāya, evaṁ vedanāsamudayaṁ abhiññāya, evaṁ vedanānirodhaṁ abhiññāya, evaṁ vedanānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya; evaṁ vedanāya assādaṁ abhiññāya, evaṁ vedanāya ādīnavaṁ abhiññāya, evaṁ vedanāya nissaraṇaṁ abhiññāya vedanāya nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā, te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti.
Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri thọ như vậy, thắng tri sự sanh khởi của thọ như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của thọ như vậy, thắng tri con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của thọ như vậy; thắng tri vị ngọt của thọ như vậy, thắng tri sự nguy hại của thọ như vậy, thắng tri sự xuất ly khỏi thọ như vậy, rồi thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thọ, họ là những người thực hành chân chánh. Những ai thực hành chân chánh, họ có được chỗ đứng vững chắc trong Pháp và Luật này.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ vedanaṁ abhiññāya …pe… vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
Và này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri thọ như vậy... cho đến... đối với họ không có vòng luân hồi để có thể tuyên bố.
Katamā ca, bhikkhave, saññā? Chayime, bhikkhave, saññākāyā—rūpasaññā, saddasaññā, gandhasaññā, rasasaññā, phoṭṭhabbasaññā, dhammasaññā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, saññā. Phassasamudayā saññāsamudayo; phassanirodhā saññānirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saññānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi …pe… vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
And what is perception? There are these six classes of perception: perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. This is called perception. Perception originates from contact. When contact ceases, perception ceases. The practice that leads to the cessation of perceptions is simply this noble eightfold path …
Này các Tỳ khưu, tưởng là gì? Này các Tỳ khưu, có sáu nhóm tưởng này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỳ khưu, cái này được gọi là tưởng. Do sự sanh khởi của xúc nên có sự sanh khởi của tưởng; do sự đoạn diệt của xúc nên có sự đoạn diệt của tưởng. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của tưởng, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định... cho đến... đối với họ không có vòng luân hồi để có thể tuyên bố.
Katame ca, bhikkhave, saṅkhārā? Chayime, bhikkhave, cetanākāyā—rūpasañcetanā …pe… dhammasañcetanā. Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā. Phassasamudayā saṅkhārasamudayo; phassanirodhā saṅkhāranirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what are choices? There are these six classes of intention: intention regarding sights … intention regarding ideas. These are called choices. Choices originate from contact. When contact ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path …
Này các Tỳ khưu, các hành là gì? Này các Tỳ khưu, có sáu nhóm tư này: tư về sắc, tư về thanh, tư về hương, tư về vị, tư về xúc, tư về pháp. Này các Tỳ khưu, những cái này được gọi là các hành. Do sự sanh khởi của xúc nên có sự sanh khởi của các hành; do sự đoạn diệt của xúc nên có sự đoạn diệt của các hành. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của các hành, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.
Yaṁ saṅkhāre paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ saṅkhārānaṁ assādo. Ye saṅkhārā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā—ayaṁ saṅkhārānaṁ ādīnavo. Yo saṅkhāresu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ saṅkhārānaṁ nissaraṇaṁ.
Sự lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên các hành – đây là vị ngọt của các hành. Các hành nào là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại – đây là sự nguy hại của các hành. Sự nhiếp phục dục tham, sự từ bỏ dục tham đối với các hành – đây là sự xuất ly khỏi các hành.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ saṅkhāre abhiññāya, evaṁ saṅkhārasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ saṅkhāranirodhaṁ abhiññāya, evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya …pe… saṅkhārānaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti …pe… vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri các hành như vậy, thắng tri sự sanh khởi của các hành như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của các hành như vậy, thắng tri con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của các hành như vậy... cho đến... rồi thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hành, họ là những người thực hành chân chánh. Những ai thực hành chân chánh, họ có được chỗ đứng vững chắc trong Pháp và Luật này... cho đến... đối với họ không có vòng luân hồi để có thể tuyên bố.
Katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ? Chayime, bhikkhave, viññāṇakāyā—cakkhuviññāṇaṁ, sotaviññāṇaṁ, ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ, kāyaviññāṇaṁ, manoviññāṇaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, viññāṇaṁ. Nāmarūpasamudayā viññāṇasamudayo; nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo viññāṇanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is consciousness? There are these six classes of consciousness: eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. This is called consciousness. Consciousness originates from name and form. When name and form cease, consciousness ceases. The practice that leads to the cessation of consciousness is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Này các Tỳ khưu, và thế nào là thức? Này các Tỳ khưu, có sáu thân thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi; do danh sắc diệt nên thức diệt. Con đường đưa đến sự diệt của thức chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.
Yaṁ viññāṇaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—ayaṁ viññāṇassa assādo. Yaṁ viññāṇaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ—ayaṁ viññāṇassa ādīnavo. Yo viññāṇasmiṁ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ viññāṇassa nissaraṇaṁ.
The pleasure and happiness that arise from consciousness: this is its gratification. That consciousness is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for consciousness: this is its escape.
Sự lạc, sự hỷ nào sanh khởi do duyên thức – đây là vị ngọt của thức. Thức là vô thường, khổ, có bản chất biến hoại – đây là sự nguy hại của thức. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham đối với thức – đây là sự xuất ly khỏi thức.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ viññāṇaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya; evaṁ viññāṇassa assādaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇassa ādīnavaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇassa nissaraṇaṁ abhiññāya viññāṇassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā, te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti.
Those ascetics and brahmins who have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness: they are practicing well. Those who practice well have a footing in this teaching and training.
Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sau khi đã thắng tri thức như vậy, thắng tri sự tập khởi của thức như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của thức như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức như vậy; thắng tri vị ngọt của thức như vậy, thắng tri sự nguy hại của thức như vậy, thắng tri sự xuất ly khỏi thức như vậy, đã thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt thức, các vị ấy đã khéo thực hành. Những vị nào đã khéo thực hành, các vị ấy đứng vững trong Pháp và Luật này.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ viññāṇaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya; evaṁ viññāṇassa assādaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇassa ādīnavaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇassa nissaraṇaṁ abhiññāya viññāṇassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimuttā, te suvimuttā. Ye suvimuttā, te kevalino. Ye kevalino vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sattaṭṭhānakusalo hoti.
Those ascetics and brahmins who have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation; its gratification, drawback, and escape—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found. That’s how a mendicant is skilled in seven cases.
Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sau khi đã thắng tri thức như vậy, thắng tri sự tập khởi của thức như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của thức như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức như vậy; thắng tri vị ngọt của thức như vậy, thắng tri sự nguy hại của thức như vậy, thắng tri sự xuất ly khỏi thức như vậy, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt thức nên được giải thoát không còn chấp thủ, các vị ấy đã khéo giải thoát. Những vị nào đã khéo giải thoát, các vị ấy là bậc toàn thiện. Những vị nào là bậc toàn thiện, đối với các vị ấy không có vòng luân hồi để tuyên bố. Này các Tỳ khưu, như vậy Tỳ khưu là người thiện xảo ở bảy trú xứ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu tividhūpaparikkhī hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu dhātuso upaparikkhati, āyatanaso upaparikkhati, paṭiccasamuppādaso upaparikkhati. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu tividhūpaparikkhī hoti.
Sattaṭṭhānakusalo, bhikkhave, bhikkhu tividhūpaparikkhī, imasmiṁ dhammavinaye kevalī vusitavā ‘uttamapuriso’ti vuccatī”ti.
Pañcamaṁ.
And how does a mendicant examine in three ways? It’s when a mendicant examines by way of the elements, sense fields, and dependent origination. That’s how a mendicant examines in three ways.
In this teaching and training, a mendicant who is skilled in seven cases and who examines in three ways is called consummate, accomplished, a supreme person.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu có sự thẩm sát theo ba cách? Này các Tỳ khưu, ở đây, Tỳ khưu thẩm sát theo các giới, thẩm sát theo các xứ, thẩm sát theo duyên khởi. Này các Tỳ khưu, như vậy Tỳ khưu là người có sự thẩm sát theo ba cách. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu thiện xảo ở bảy trú xứ, có sự thẩm sát theo ba cách, trong Pháp và Luật này, được gọi là bậc toàn thiện, đã sống đời phạm hạnh, là ‘bậc tối thượng’.