- Saṁyutta Nikāya 22.56
- 6. Upayavagga
Bản dịch
SN 22.56 — Kinh Vòng Quay Của Thủ
Upādānaparipavattasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Vi-n 5 Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Vi-n 6 Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng tri thọ … tưởng … hành … Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Vi-n 7 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào do thắng tri sắc như vậy; do thắng tri sắc tập khởi như vậy, do thắng tri sắc đoạn diệt như vậy, do thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc là như vậy … thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 10 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy … chánh định.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ là như vậy … thắng tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt là như vậy … thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ!
Vi-n 13-15. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy … chánh định … thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 16 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn diệt, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
Vi-n 18 Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành, họ giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Vi-n 19 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Có sáu thức thân này, này các Tỷ -kheo, (tức là) nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy … chánh định.
Vi-n 20 Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
Vi-n 21 Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.56
- 6. Involvement
Rounds of the Grasping Aggregates
4. Kinh Vòng Quay Của Thủ
Sāvatthinidānaṁ.
“Pañcime, bhikkhave, upādānakkhandhā. Katame pañca? Rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.
Yāvakīvañcāhaṁ, bhikkhave, ime pañcupādānakkhandhe catuparivaṭṭaṁ yathābhūtaṁ nābbhaññāsiṁ, neva tāvāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddhoti paccaññāsiṁ.
Yato ca khvāhaṁ, bhikkhave, ime pañcupādānakkhandhe catuparivaṭṭaṁ yathābhūtaṁ abbhaññāsiṁ, athāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke …pe… sadevamanussāya anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddhoti paccaññāsiṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are these five grasping aggregates. What five? The grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness.
As long as I didn’t truly understand these five grasping aggregates in four rounds, I didn’t announce my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
But when I did truly understand these five grasping aggregates in four rounds, I announced my supreme perfect awakening in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.
56. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, và thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn phương diện, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không xác nhận là đã chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác trong thế giới gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Và này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn phương diện, thì khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới xác nhận là đã chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác trong thế giới... cùng với chư Thiên và loài người.”
Kathañca catuparivaṭṭaṁ? Rūpaṁ abbhaññāsiṁ, rūpasamudayaṁ abbhaññāsiṁ, rūpanirodhaṁ abbhaññāsiṁ, rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññāsiṁ; vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ abbhaññāsiṁ, viññāṇasamudayaṁ abbhaññāsiṁ, viññāṇanirodhaṁ abbhaññāsiṁ, viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññāsiṁ.
And how are there four rounds? I directly knew form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I directly knew feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.
“Và thế nào là bốn phương diện? Ta đã thắng tri sắc, đã thắng tri sự tập khởi của sắc, đã thắng tri sự đoạn diệt của sắc, đã thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc; đã thắng tri thọ... đã thắng tri tưởng... đã thắng tri các hành... Ta đã thắng tri thức, đã thắng tri sự tập khởi của thức, đã thắng tri sự đoạn diệt của thức, đã thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức.
Katamañca, bhikkhave, rūpaṁ? Cattāro ca mahābhūtā catunnañca mahābhūtānaṁ upādāya rūpaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, rūpaṁ. Āhārasamudayā rūpasamudayo; āhāranirodhā rūpanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo rūpanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is form? The four principal states, and form derived from the four principal states. This is called form. Form originates from fuel. When fuel ceases, form ceases. The practice that leads to the cessation of form is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc được tạo ra từ bốn đại chủng. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là sắc. Do sự tập khởi của vật thực, có sự tập khởi của sắc; do sự đoạn diệt của vật thực, có sự đoạn diệt của sắc. Con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến... chánh định.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ rūpaṁ abhiññāya, evaṁ rūpasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ rūpanirodhaṁ abhiññāya, evaṁ rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya rūpassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā, te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti.
Whatever ascetics and brahmins have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding form: they are practicing well. Those who practice well have a footing in this teaching and training.
“Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi thắng tri sắc như vậy, thắng tri sự tập khởi của sắc như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của sắc như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc như vậy, thực hành để yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, họ là những người thực hành chân chánh. Những ai thực hành chân chánh, họ đứng vững trong Pháp và Luật này.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ rūpaṁ abhiññāya …pe… evaṁ rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya, rūpassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimuttā te suvimuttā. Ye suvimuttā te kevalino. Ye kevalino vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
Those ascetics and brahmins who have directly known form in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding form, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found.
“Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi thắng tri sắc như vậy... sau khi thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc như vậy, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát không còn chấp thủ, họ là những người được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ là những bậc toàn hảo. Những ai là bậc toàn hảo, đối với họ không có vòng luân hồi để có thể tuyên bố.”
Katamā ca, bhikkhave, vedanā? Chayime, bhikkhave, vedanākāyā—cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, vedanā. Phassasamudayā vedanāsamudayo; phassanirodhā vedanānirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo vedanānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is feeling? There are these six classes of feeling: feeling born of contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. This is called feeling. Feeling originates from contact. When contact ceases, feeling ceases. The practice that leads to the cessation of feelings is simply this noble eightfold path …
“Này các Tỳ khưu, và thế nào là thọ? Này các Tỳ khưu, có sáu loại thọ này: thọ sanh do nhãn xúc, thọ sanh do nhĩ xúc, thọ sanh do tỷ xúc, thọ sanh do thiệt xúc, thọ sanh do thân xúc, thọ sanh do ý xúc. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi; do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thọ, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ vedanaṁ abhiññāya, evaṁ vedanāsamudayaṁ abhiññāya, evaṁ vedanānirodhaṁ abhiññāya, evaṁ vedanānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya vedanāya nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā, te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti.
“Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri thọ như vậy, thắng tri sự tập khởi của thọ như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của thọ như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thọ như vậy, đã thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thọ, các vị ấy là những người đã khéo thực hành. Những ai đã khéo thực hành, các vị ấy đứng vững trong Pháp và Luật này.”
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ vedanaṁ abhiññāya …pe… evaṁ vedanānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya …pe… vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
“Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri thọ như vậy... cho đến... sau khi đã thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thọ như vậy... cho đến... đối với các vị ấy, không có gì để tuyên bố về vòng luân hồi.”
Katamā ca, bhikkhave, saññā? Chayime, bhikkhave, saññākāyā—rūpasaññā, saddasaññā, gandhasaññā, rasasaññā, phoṭṭhabbasaññā, dhammasaññā. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, saññā. Phassasamudayā saññāsamudayo; phassanirodhā saññānirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saññānirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi …pe… vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
And what is perception? There are these six classes of perception: perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. This is called perception. Perception originates from contact. When contact ceases, perception ceases. The practice that leads to the cessation of perceptions is simply this noble eightfold path …
“Này các Tỳ khưu, và thế nào là tưởng? Này các Tỳ khưu, có sáu loại tưởng này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi; do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt của tưởng, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định... cho đến... đối với các vị ấy, không có gì để tuyên bố về vòng luân hồi.”
Katame ca, bhikkhave, saṅkhārā? Chayime, bhikkhave, cetanākāyā—rūpasañcetanā, saddasañcetanā, gandhasañcetanā, rasasañcetanā, phoṭṭhabbasañcetanā, dhammasañcetanā. Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā. Phassasamudayā saṅkhārasamudayo; phassanirodhā saṅkhāranirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what are choices? There are these six classes of intention: intention regarding sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. These are called choices. Choices originate from contact. When contact ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path …
“Này các Tỳ khưu, và thế nào là các hành? Này các Tỳ khưu, có sáu loại tư này: tư về sắc, tư về thanh, tư về hương, tư về vị, tư về xúc, tư về pháp. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là các hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi; do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ saṅkhāre abhiññāya, evaṁ saṅkhārasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ saṅkhāranirodhaṁ abhiññāya, evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya saṅkhārānaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā, te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti.
“Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri các hành như vậy, thắng tri sự tập khởi của các hành như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của các hành như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành như vậy, đã thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hành, các vị ấy là những người đã khéo thực hành. Những ai đã khéo thực hành, các vị ấy đứng vững trong Pháp và Luật này.”
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ saṅkhāre abhiññāya, evaṁ saṅkhārasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ saṅkhāranirodhaṁ abhiññāya, evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya saṅkhārānaṁ nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimuttā, te suvimuttā. Ye suvimuttā, te kevalino. Ye kevalino vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
“Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri các hành như vậy, thắng tri sự tập khởi của các hành như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của các hành như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành như vậy, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hành, được giải thoát không còn chấp thủ, các vị ấy là những người đã khéo giải thoát. Những ai đã khéo giải thoát, các vị ấy là những bậc toàn hảo. Những ai là bậc toàn hảo, đối với các vị ấy, không có gì để tuyên bố về vòng luân hồi.”
Katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ? Chayime, bhikkhave, viññāṇakāyā—cakkhuviññāṇaṁ, sotaviññāṇaṁ, ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ, kāyaviññāṇaṁ, manoviññāṇaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, viññāṇaṁ. Nāmarūpasamudayā viññāṇasamudayo; nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo viññāṇanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is consciousness? There are these six classes of consciousness: eye, ear, nose, tongue, body, and mind consciousness. This is called consciousness. Consciousness originates from name and form. When name and form cease, consciousness ceases. The practice that leads to the cessation of consciousness is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Này các Tỳ khưu, và thế nào là thức? Này các Tỳ khưu, có sáu loại thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi; do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này chính là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức, tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ viññāṇaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya viññāṇassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipannā, te suppaṭipannā. Ye suppaṭipannā, te imasmiṁ dhammavinaye gādhanti.
Whatever ascetics and brahmins have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and are practicing for disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness: they are practicing well. Those who practice well have a footing in this teaching and training.
“Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri thức như vậy, thắng tri sự tập khởi của thức như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của thức như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức như vậy, đã thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, các vị ấy là những người đã khéo thực hành. Những ai đã khéo thực hành, các vị ấy đứng vững trong Pháp và Luật này.”
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā evaṁ viññāṇaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇasamudayaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhaṁ abhiññāya, evaṁ viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhiññāya viññāṇassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimuttā, te suvimuttā. Ye suvimuttā, te kevalino. Ye kevalino vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāyā”ti.
Catutthaṁ.
Those ascetics and brahmins who have directly known consciousness in this way—and its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation—and due to disillusionment, dispassion, and cessation regarding consciousness, are freed by not grasping: they are well freed. Those who are well freed are consummate ones. For consummate ones, there is no cycle of rebirths to be found.”
“Và này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, sau khi đã thắng tri thức như vậy, thắng tri sự tập khởi của thức như vậy, thắng tri sự đoạn diệt của thức như vậy, thắng tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức như vậy, do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không còn chấp thủ, các vị ấy là những người đã khéo giải thoát. Những ai đã khéo giải thoát, các vị ấy là những bậc toàn hảo. Những ai là bậc toàn hảo, đối với các vị ấy, không có gì để tuyên bố về vòng luân hồi.” (Kinh) thứ tư.