- Saṁyutta Nikāya 22.51
- 5. Attadīpavagga
Bản dịch
SN 22.51 — Kinh Đoạn Tận Hỷ
Nandikkhayasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy sắc vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã khéo giải thoát.
Vi-n 4-6. Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo thấy thọ vô thường là vô thường … tưởng vô thường … các hành vô thường …
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo thấy thức vô thường là vô thường; đấy là chánh tri kiến của vị ấy. Thấy chơn chánh như vậy, vị ấy yếm ly. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, nên hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.51
- 5. Be Your Own Island
The End of Relishing
9. Kinh Đoạn Tận Hỷ
Sāvatthinidānaṁ.
“Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu rūpaṁ aniccanti passati. Sāssa hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṁ nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccati.
Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu vedanaṁ aniccanti passati. Sāssa hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṁ nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccati.
Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu saññaṁ aniccanti passati …pe…
anicceyeva bhikkhave, bhikkhu saṅkhāre aniccāti passati. Sāssa hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṁ nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccati.
Aniccaññeva, bhikkhave, bhikkhu viññāṇaṁ aniccanti passati. Sāssa hoti sammādiṭṭhi. Sammā passaṁ nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccatī”ti.
Navamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, form really is impermanent. A mendicant sees that it is impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed.
Feeling …
Perception …
Choices …
Consciousness really is impermanent. A mendicant sees that it is impermanent: that’s their right view. Seeing rightly, they grow disillusioned. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed.”
51. Nhân duyên ở Sāvatthi. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấy sắc vốn là vô thường là ‘vô thường’. Đó là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy một cách chân chánh, vị ấy yếm ly. Do đoạn tận hỷ nên tham được đoạn tận, do đoạn tận tham nên hỷ được đoạn tận. Do đoạn tận hỷ và tham, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấy thọ vốn là vô thường là ‘vô thường’. Đó là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy một cách chân chánh, vị ấy yếm ly. Do đoạn tận hỷ nên tham được đoạn tận, do đoạn tận tham nên hỷ được đoạn tận. Do đoạn tận hỷ và tham, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấy tưởng vốn là vô thường là ‘vô thường’… tóm tắt… Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấy các hành vốn là vô thường là ‘vô thường’. Đó là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy một cách chân chánh, vị ấy yếm ly. Do đoạn tận hỷ nên tham được đoạn tận, do đoạn tận tham nên hỷ được đoạn tận. Do đoạn tận hỷ và tham, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấy thức vốn là vô thường là ‘vô thường’. Đó là chánh kiến của vị ấy. Khi thấy một cách chân chánh, vị ấy yếm ly. Do đoạn tận hỷ nên tham được đoạn tận, do đoạn tận tham nên hỷ được đoạn tận. Do đoạn tận hỷ và tham, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’.” (Kinh thứ chín).