- Saṁyutta Nikāya 22.50
- 5. Attadīpavagga
Dutiyasoṇasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dutiyasoṇasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Sona, con vị gia chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Sona, con vị gia chủ, đang ngồi một bên:
Vi-n 4 —Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, không biết rõ sắc, không biết rõ (nappajananti) sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; không biết rõ thọ … không biết rõ tưởng … không biết rõ các hành … không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị ấy trong đời sống hiện tại, cũng không tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 5 Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Sona, biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt; biết rõ thọ … biết rõ tưởng … biết rõ các hành … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này Sona, không những được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; những vị Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, còn tự mình chứng tri với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Sona thứ hai
Atha kho soṇo gahapatiputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho soṇaṁ gahapatiputtaṁ bhagavā etadavoca:
Then the householder Soṇa went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
50. Tôi nghe như vầy – một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi Kalandakanivāpa. Bấy giờ, con trai của gia chủ là Sona đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói điều này với con trai của gia chủ là Sona đang ngồi một bên:
“Ye hi keci, soṇa, samaṇā vā brāhmaṇā vā rūpaṁ nappajānanti, rūpasamudayaṁ nappajānanti, rūpanirodhaṁ nappajānanti, rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti; vedanaṁ nappajānanti, vedanāsamudayaṁ nappajānanti, vedanānirodhaṁ nappajānanti, vedanānirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti; saññaṁ nappajānanti …pe… saṅkhāre nappajānanti, saṅkhārasamudayaṁ nappajānanti, saṅkhāranirodhaṁ nappajānanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti; viññāṇaṁ nappajānanti, viññāṇasamudayaṁ nappajānanti, viññāṇanirodhaṁ nappajānanti, viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti. Na me te, soṇa, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
“Soṇa, there are ascetics and brahmins who don’t understand form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They don’t understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
“Này Sona, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri sắc, không tuệ tri sự tập khởi của sắc, không tuệ tri sự đoạn diệt của sắc, không tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc; không tuệ tri thọ, không tuệ tri sự tập khởi của thọ, không tuệ tri sự đoạn diệt của thọ, không tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thọ; không tuệ tri tưởng… tóm tắt… không tuệ tri các hành, không tuệ tri sự tập khởi của các hành, không tuệ tri sự đoạn diệt của các hành, không tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành; không tuệ tri thức, không tuệ tri sự tập khởi của thức, không tuệ tri sự đoạn diệt của thức, không tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức. Này Sona, đối với Ta, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, hay không được xem là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn, và những vị tôn giả ấy cũng không tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh ngay trong hiện tại.
Ye ca kho keci, soṇa, samaṇā vā brāhmaṇā vā rūpaṁ pajānanti, rūpasamudayaṁ pajānanti, rūpanirodhaṁ pajānanti, rūpanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti; vedanaṁ pajānanti …pe… saññaṁ pajānanti … saṅkhāre pajānanti … viññāṇaṁ pajānanti, viññāṇasamudayaṁ pajānanti, viññāṇanirodhaṁ pajānanti, viññāṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti. Te ca kho me, soṇa, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
There are ascetics and brahmins who do understand form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. They do understand feeling … perception … choices … consciousness, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
“Còn này Sona, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào tuệ tri sắc, tuệ tri sự tập khởi của sắc, tuệ tri sự đoạn diệt của sắc, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của sắc; tuệ tri thọ… tóm tắt… tuệ tri tưởng… tuệ tri các hành… tuệ tri thức, tuệ tri sự tập khởi của thức, tuệ tri sự đoạn diệt của thức, tuệ tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của thức. Này Sona, đối với Ta, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, và được xem là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn, và những vị tôn giả ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh ngay trong hiện tại.” (Kinh thứ tám).