- Saṁyutta Nikāya 22.52
- 5. Attadīpavagga
Bản dịch
SN 22.52 — Kinh Đoạn Tận Hỷ thứ hai
Dutiyanandikkhayasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Hãy như lý tác ý sắc, này các Tỷ-kheo, hãy như thật quán (samanupassati) sắc là vô thường. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý sắc, như thật quán sắc là vô thường, vị ấy yếm ly đối với sắc. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là vị đã được khéo giải thoát.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý thọ … tác ý tưởng … tác ý các hành …
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào như lý tác ý thức, như thật quán thức là vô thường, vị ấy yếm ly đối với thức. Do hỷ đoạn tận, tham được đoạn tận. Do tham đoạn tận, hỷ được đoạn tận. Do hỷ, tham đoạn tận, tâm được giải thoát, vị ấy được gọi là đã được khéo giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.52
- 5. Be Your Own Island
The End of Relishing (2nd)
10. Kinh Đoạn Tận Hỷ thứ hai
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, yoniso manasi karotha, rūpāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassatha. Rūpaṁ, bhikkhave, bhikkhu yoniso manasi karonto, rūpāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassanto rūpasmiṁ nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccati.
Vedanaṁ, bhikkhave, yoniso manasi karotha, vedanāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassatha. Vedanaṁ, bhikkhave, bhikkhu yoniso manasi karonto, vedanāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassanto vedanāya nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccati.
Saññaṁ bhikkhave …
saṅkhāre, bhikkhave, yoniso manasi karotha, saṅkhārāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassatha. Saṅkhāre, bhikkhave, bhikkhu yoniso manasi karonto, saṅkhārāniccataṁ yathābhūtaṁ samanupassanto saṅkhāresu nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccati.
Viññāṇaṁ, bhikkhave, yoniso manasi karotha, viññāṇāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassatha. Viññāṇaṁ, bhikkhave, bhikkhu yoniso manasi karonto, viññāṇāniccatañca yathābhūtaṁ samanupassanto viññāṇasmiṁ nibbindati. Nandikkhayā rāgakkhayo, rāgakkhayā nandikkhayo. Nandirāgakkhayā cittaṁ vimuttaṁ suvimuttanti vuccatī”ti.
Dasamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, rationally apply the mind to form. Truly see the impermanence of form. When a mendicant does this, they grow disillusioned with form. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed.
Rationally apply the mind to feeling …
perception …
choices …
consciousness. Truly see the impermanence of consciousness. When a mendicant does this, they grow disillusioned with consciousness. When relishing ends, greed ends. When greed ends, relishing ends. When relishing and greed end, the mind is freed, and is said to be well freed.”
52. Tại Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, hãy tác ý như lý về sắc, và hãy thường xuyên quán xét tính vô thường của sắc đúng như thật. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trong khi tác ý như lý về sắc, và trong khi thường xuyên quán xét tính vô thường của sắc đúng như thật, vị ấy nhàm chán đối với sắc. Do hỷ tận nên tham tận, do tham tận nên hỷ tận. Do hỷ và tham tận, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’. Này các Tỳ khưu, hãy tác ý như lý về thọ, và hãy thường xuyên quán xét tính vô thường của thọ đúng như thật. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trong khi tác ý như lý về thọ, và trong khi thường xuyên quán xét tính vô thường của thọ đúng như thật, vị ấy nhàm chán đối với thọ. Do hỷ tận nên tham tận, do tham tận nên hỷ tận. Do hỷ và tham tận, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’. Này các Tỳ khưu, về tưởng... Này các Tỳ khưu, hãy tác ý như lý về các hành, và hãy thường xuyên quán xét tính vô thường của các hành đúng như thật. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trong khi tác ý như lý về các hành, và trong khi thường xuyên quán xét tính vô thường của các hành đúng như thật, vị ấy nhàm chán đối với các hành. Do hỷ tận nên tham tận, do tham tận nên hỷ tận. Do hỷ và tham tận, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’. Này các Tỳ khưu, hãy tác ý như lý về thức, và hãy thường xuyên quán xét tính vô thường của thức đúng như thật. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trong khi tác ý như lý về thức, và trong khi thường xuyên quán xét tính vô thường của thức đúng như thật, vị ấy nhàm chán đối với thức. Do hỷ tận nên tham tận, do tham tận nên hỷ tận. Do hỷ và tham tận, tâm được giải thoát được gọi là ‘khéo giải thoát’.” (Kinh thứ mười).
Attadīpavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Attadīpa, thứ năm.
Attadīpā paṭipadā, Dve ca honti aniccatā; Samanupassanā khandhā, Dve soṇā dve nandikkhayena cāti.
Attadīpa, Paṭipadā, và hai kinh Aniccatā; Samanupassanā, Khandhā, hai kinh Soṇa, và hai kinh với Nandikkhaya.
Mūlapaṇṇāsako samatto.
Năm Mươi Kinh Gốc đã hoàn tất.
Tassa mūlapaṇṇāsakassa vagguddānaṁ
Kệ tóm lược các phẩm của Năm Mươi Kinh Gốc này:
Nakulapitā anicco ca, Bhāro natumhākena ca; Attadīpena paññāso, Paṭhamo tena pavuccatīti.
Nakulapitā, và Anicca, Bhāra, và Natumhāka; Cùng với Attadīpa, do đó Năm Mươi Kinh đầu tiên được gọi tên.