- Saṁyutta Nikāya 22.43
- 5. Attadīpavagga
Bản dịch
SN 22.43 — Kinh Hòn Đảo Tự Thân
Attadīpasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Hãy sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, hãy nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác.
Vi-n 4 Với những ai sống tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, nương tựa nơi chính mình, không nương tựa một ai khác. Lấy pháp làm hòn đảo, lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác, hãy như lý quán sát: “Sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?”
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, sầu, bi, khổ, ưu, não do nguồn gốc gì sanh? Do cái gì làm cho hiện hữu?
Vi-n 6 Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán (samamupassati) sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi sắc của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, nào sẽ khởi lên.
Vi-n 7 Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ …
Vi-n 8 Vị ấy quán tưởng như là tự ngã …
Vi-n 9 Vị ấy quán các hành như là tự ngã …
Vi-n 10 Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Thức này của vị ấy biến hoại và đổi khác. Khi thức của vị ấy biến hoại và đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ khởi lên.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, biết sắc là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả sắc xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là (Tadanganibbuto) vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, biết thọ là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt, vị ấy thấy tất cả thọ xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, biết tưởng là vô thường …
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, biết các hành là vô thường …
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, biết thức là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả thức xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.43
- 5. Be Your Own Island
Be Your Own Island
1. Kinh Hòn Đảo Tự Thân
Sāvatthinidānaṁ.
“Attadīpā, bhikkhave, viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā.
Attadīpānaṁ, bhikkhave, viharataṁ attasaraṇānaṁ anaññasaraṇānaṁ, dhammadīpānaṁ dhammasaraṇānaṁ anaññasaraṇānaṁ yoni upaparikkhitabbā ‘Kiṁjātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, kiṁpahotikā’ti?
At Sāvatthī.
“Mendicants, be your own island, your own refuge, with no other refuge. Let the teaching be your island and your refuge, with no other refuge.
When you live like this, you should examine rationally: ‘From what are sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress born and produced?’
43. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỷ-kheo, hãy sống với tự thân làm hòn đảo, tự thân làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác; với Pháp làm hòn đảo, với Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác. Này các Tỷ-kheo, đối với những người đang sống với tự thân làm hòn đảo, tự thân làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác; với Pháp làm hòn đảo, với Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác, cần phải như lý tư duy: ‘Do duyên gì mà sanh khởi sầu, bi, khổ, ưu, não? Do cái gì làm nguyên nhân?’”
Kiṁjātikā ca, bhikkhave, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, kiṁpahotikā? Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto, rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ. Tassa taṁ rūpaṁ vipariṇamati, aññathā ca hoti. Tassa rūpavipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Vedanaṁ attato samanupassati, vedanāvantaṁ vā attānaṁ; attani vā vedanaṁ, vedanāya vā attānaṁ. Tassa sā vedanā vipariṇamati, aññathā ca hoti. Tassa vedanāvipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparideva …pe… pāyāsā.
Saññaṁ attato samanupassati …
saṅkhāre attato samanupassati …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ. Tassa taṁ viññāṇaṁ vipariṇamati, aññathā ca hoti. Tassa viññāṇavipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
And, mendicants, from what are sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress born and produced? It’s when an unlearned ordinary person has not seen the noble ones, and is neither skilled nor trained in the teaching of the noble ones. They’ve not seen true persons, and are neither skilled nor trained in the teaching of the true persons. They regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. But that form of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
They regard feeling as self …
They regard perception as self …
They regard choices as self …
They regard consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. But that consciousness of theirs decays and perishes, which gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
“Này các Tỳ khưu, do sanh khởi từ đâu mà có sầu, bi, khổ, ưu, não, do cái gì làm nhân sanh? Này các Tỳ khưu, ở đây, kẻ phàm phu vô văn, không thấy các bậc Thánh, không thông thạo Thánh pháp, không được huấn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thông thạo pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, thường quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Sắc ấy của người ấy bị biến hoại, trở thành khác. Do sắc ấy biến hoại, trở thành khác, nên sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. (Vị ấy) thường quán thọ là tự ngã, hoặc tự ngã có thọ, hoặc thọ ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thọ. Thọ ấy của người ấy bị biến hoại, trở thành khác. Do thọ ấy biến hoại, trở thành khác, nên sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. (Vị ấy) thường quán tưởng là tự ngã… (Vị ấy) thường quán các hành là tự ngã… (Vị ấy) thường quán thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. Thức ấy của người ấy bị biến hoại, trở thành khác. Do thức ấy biến hoại, trở thành khác, nên sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi.”
Rūpassa tveva, bhikkhave, aniccataṁ viditvā vipariṇāmaṁ virāgaṁ nirodhaṁ, ‘pubbe ceva rūpaṁ etarahi ca sabbaṁ rūpaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhamman’ti, evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato ye sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā na paritassati, aparitassaṁ sukhaṁ viharati, sukhavihārī bhikkhu ‘tadaṅganibbuto’ti vuccati.
Vedanāya tveva, bhikkhave, aniccataṁ viditvā vipariṇāmaṁ virāgaṁ nirodhaṁ, ‘pubbe ceva vedanā etarahi ca sabbā vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti, evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato ye sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā na paritassati, aparitassaṁ sukhaṁ viharati, sukhavihārī bhikkhu ‘tadaṅganibbuto’ti vuccati.
Saññāya …
saṅkhārānaṁ tveva, bhikkhave, aniccataṁ viditvā vipariṇāmaṁ virāgaṁ nirodhaṁ, ‘pubbe ceva saṅkhārā etarahi ca sabbe saṅkhārā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti, evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato ye sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā na paritassati, aparitassaṁ sukhaṁ viharati, sukhavihārī bhikkhu ‘tadaṅganibbuto’ti vuccati.
Viññāṇassa tveva, bhikkhave, aniccataṁ viditvā vipariṇāmaṁ virāgaṁ nirodhaṁ, ‘pubbe ceva viññāṇaṁ etarahi ca sabbaṁ viññāṇaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhamman’ti, evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato ye sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā te pahīyanti. Tesaṁ pahānā na paritassati, aparitassaṁ sukhaṁ viharati, sukhavihārī bhikkhu ‘tadaṅganibbuto’ti vuccatī”ti.
Paṭhamaṁ.
Sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are given up when you understand the impermanence of form—its perishing, fading away, and cessation—and you truly see with right understanding that all form, whether past or present, is impermanent, suffering, and perishable. When these things are given up there’s no anxiety. Without anxiety you live happily. A mendicant who lives happily is said to be quenched in that respect.
Sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress are given up when you understand the impermanence of feeling …
perception …
choices …
consciousness—its perishing, fading away, and cessation—and you truly see with right understanding that all consciousness, whether past or present, is impermanent, suffering, and perishable. When these things are given up there’s no anxiety. Without anxiety you live happily. A mendicant who lives happily is said to be quenched in that respect.”
“Này các Tỳ khưu, sau khi đã biết được tính vô thường, sự biến hoại, sự ly tham, sự đoạn diệt của chính sắc, và đối với người thấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Sắc trong quá khứ và cả sắc trong hiện tại, tất cả sắc đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, những sầu, bi, khổ, ưu, não ấy được đoạn tận. Do đoạn tận chúng, vị ấy không còn khao khát. Không khao khát, vị ấy sống an lạc. Vị Tỳ khưu sống an lạc được gọi là ‘người đã tịch tịnh nhờ chi phần ấy’. Này các Tỳ khưu, sau khi đã biết được tính vô thường, sự biến hoại, sự ly tham, sự đoạn diệt của chính thọ, và đối với người thấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Thọ trong quá khứ và cả thọ trong hiện tại, tất cả thọ đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, những sầu, bi, khổ, ưu, não ấy được đoạn tận. Do đoạn tận chúng, vị ấy không còn khao khát. Không khao khát, vị ấy sống an lạc. Vị Tỳ khưu sống an lạc được gọi là ‘người đã tịch tịnh nhờ chi phần ấy’. Về tưởng… Này các Tỳ khưu, sau khi đã biết được tính vô thường, sự biến hoại, sự ly tham, sự đoạn diệt của chính các hành, và đối với người thấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Các hành trong quá khứ và cả các hành trong hiện tại, tất cả các hành đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, những sầu, bi, khổ, ưu, não ấy được đoạn tận. Do đoạn tận chúng, vị ấy không còn khao khát. Không khao khát, vị ấy sống an lạc. Vị Tỳ khưu sống an lạc được gọi là ‘người đã tịch tịnh nhờ chi phần ấy’. Này các Tỳ khưu, sau khi đã biết được tính vô thường, sự biến hoại, sự ly tham, sự đoạn diệt của chính thức, và đối với người thấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: ‘Thức trong quá khứ và cả thức trong hiện tại, tất cả thức đều vô thường, khổ, có bản chất biến hoại’, những sầu, bi, khổ, ưu, não ấy được đoạn tận. Do đoạn tận chúng, vị ấy không còn khao khát. Không khao khát, vị ấy sống an lạc. Vị Tỳ khưu sống an lạc được gọi là ‘người đã tịch tịnh nhờ chi phần ấy’.” Kinh thứ nhất.