- Saṁyutta Nikāya 22.42
- 4. Natumhākavagga
Bản dịch
SN 22.42 — Kinh Tùy Pháp thứ tư
Catutthaanudhammasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong sắc … trong thọ … trong tưởng … trong các hành. Vị ấy sống tùy quán vô ngã trong thức …
Vi-n 4 Ai sống tùy quán vô ngã trong sắc, trong thọ, trong tưởng, trong các hành, trong thức; vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức. Do vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ, liễu tri tưởng, liễu tri các hành, liễu tri thức; vị ấy giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.42
- 4. It’s Not Yours
In Line With the Teaching (4th)
10. Kinh Tùy Pháp thứ tư
Sāvatthinidānaṁ.
“Dhammānudhammappaṭipannassa, bhikkhave, bhikkhuno ayamanudhammo hoti yaṁ rūpe anattānupassī vihareyya, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe anattānupassī vihareyya.
Yo rūpe anattānupassī viharanto …pe… rūpaṁ parijānāti, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ parijānāti, so rūpaṁ parijānaṁ, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ parijānaṁ parimuccati rūpamhā, parimuccati vedanāya, parimuccati saññāya, parimuccati saṅkhārehi, parimuccati viññāṇamhā, parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccati dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Dasamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when a mendicant is practicing in line with the teaching, this is what’s in line with the teaching. They should meditate observing not-self in form, feeling, perception, choices, and consciousness. …
They’re freed from suffering, I say.”
42. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỷ-kheo, đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, đây là pháp tùy thuận: vị ấy nên sống quán vô ngã trong sắc, trong thọ… trong tưởng… trong các hành… nên sống quán vô ngã trong thức. Vị nào sống quán vô ngã trong sắc… (như trên)… liễu tri sắc, liễu tri thọ… tưởng… các hành… liễu tri thức. Vị ấy, do liễu tri sắc, liễu tri thọ… tưởng… các hành… liễu tri thức, được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: ‘Vị ấy được giải thoát khỏi khổ’.” (Kinh) thứ mười.
Natumhākavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Không Phải Của Các Ngươi, thứ tư.
Natumhākena dve vuttā, bhikkhūhi apare duve; Ānandena ca dve vuttā, anudhammehi dve dukāti.
Hai kinh được nói về ‘Không Phải Của Các Ngươi’, hai kinh khác về các Tỷ-kheo; và hai kinh được nói về Ānanda, hai cặp kinh về Tùy Pháp.