- Saṁyutta Nikāya 22.39
- 4. Natumhākavagga
Bản dịch
SN 22.39 — Kinh Tùy Pháp
Anudhammasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sàavatthi …
Vi-n 3 —Ðối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, tùy pháp này có mặt: Ðối với sắc, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thọ, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với tưởng, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với các hành, vị ấy sống nhiều yếm ly; đối với thức, vị ấy sống nhiều yếm ly.
Vi-n 4 Ai sống nhiều yếm ly đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … ai sống nhiều yếm ly đối với thức, vị ấy liễu tri sắc … liễu tri thọ … liễu tri tưởng … liễu tri các hành … liễu tri thức. Do liễu tri sắc … thọ … tưởng … các hành … do liễu tri thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, giải thoát khỏi tưởng, giải thoát khỏi các hành, giải thoát khỏi thức, giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy giải thoát khỏi đau khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.39
- 4. It’s Not Yours
In Line With the Teaching
7. Kinh Tùy Pháp
Sāvatthinidānaṁ.
“Dhammānudhammappaṭipannassa, bhikkhave, bhikkhuno ayamanudhammo hoti
yaṁ rūpe nibbidābahulo vihareyya, vedanāya nibbidābahulo vihareyya, saññāya nibbidābahulo vihareyya, saṅkhāresu nibbidābahulo vihareyya, viññāṇe nibbidābahulo vihareyya. Yo rūpe nibbidābahulo viharanto, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu nibbidābahulo viharanto, viññāṇe nibbidābahulo viharanto rūpaṁ parijānāti, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ parijānāti, so rūpaṁ parijānaṁ, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ parijānaṁ parimuccati rūpamhā, parimuccati vedanāya, parimuccati saññāya, parimuccati saṅkhārehi, parimuccati viññāṇamhā, parimuccati jātiyā jarāmaraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘parimuccati dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Sattamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when a mendicant is practicing in line with the teaching, this is what’s in line with the teaching.
They should live full of disillusionment for form, feeling, perception, choices, and consciousness. Living in this way, they completely understand form, feeling, perception, choices, and consciousness. Completely understanding form, feeling, perception, choices, and consciousness, they’re freed from these things. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.”
39. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỷ-kheo, đối với vị Tỷ-kheo thực hành pháp và tùy pháp, đây là pháp tùy thuận: vị ấy nên sống với sự nhàm chán nhiều đối với sắc, nên sống với sự nhàm chán nhiều đối với thọ, nên sống với sự nhàm chán nhiều đối với tưởng, nên sống với sự nhàm chán nhiều đối với các hành, nên sống với sự nhàm chán nhiều đối với thức. Vị nào sống với sự nhàm chán nhiều đối với sắc, sống với sự nhàm chán nhiều đối với thọ… tưởng… các hành, sống với sự nhàm chán nhiều đối với thức, vị ấy liễu tri sắc, liễu tri thọ… tưởng… các hành… liễu tri thức. Vị ấy, do liễu tri sắc, liễu tri thọ… tưởng… các hành… liễu tri thức, được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: ‘Vị ấy được giải thoát khỏi khổ’.” (Kinh) thứ bảy.