- Saṁyutta Nikāya 22.38
- 4. Natumhākavagga
Bản dịch
SN 22.38 — Kinh Ānanda thứ hai
Dutiyaānandasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này Ānanda, nếu Ông được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi như vậy, này Ānanda, Ông trả lời như thế nào?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi như sau: “Trong những pháp nào, này Hiền giả Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ? Trong những pháp nào, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
Vi-n 5 “Ðối với sắc quá khứ, này Hiền giả, đã đoạn diệt, đã biến hoại, đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thọ ấy được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức quá khứ, đã đoạn diệt, đã biến hoại, sự sanh khởi của thức ấy đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.
Vi-n 6 Ðối với sắc chưa sanh, này Hiền giả, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ chưa sanh, chưa hiện hữu, trong thọ ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức chưa sanh, chưa hiện hữu, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.
Vi-n 7 Ðối với sắc đã sanh, này Hiền giả, đã hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với tưởng đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với các hành đã sanh, đã hiện hữu … Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ. Trong những pháp này, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”.
Nếu con được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 8 —Lành thay, lành thay, này Ānanda! Này Ānanda, đối với sắc thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại; đối với sắc ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức, thuộc quá khứ đã đoạn diệt, đã biến hoại, trong thức ấy, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ. Trong các pháp này, này Ānanda, sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự biến mất đã được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi đã được thấy rõ.
Vi-n 9 Ðối với sắc chưa sanh, này Ānanda, chưa hiện hữu, trong sắc ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức chưa sanh khởi, chưa hiện hữu, trong thức ấy, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ. Ðối với những pháp này, này Ānanda, sự sanh khởi sẽ được thấy rõ, sự diệt mất sẽ được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi sẽ được thấy rõ.
Vi-n 10 Ðối với sắc đã sanh, này Ānanda, đã hiện hữu, đối với sắc ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðối với thọ … Ðối với tưởng … Ðối với các hành … Ðối với thức đã sanh, đã hiện hữu, đối với thức ấy, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi như vậy, này Ānanda, Ông cần phải trả lời như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.38
- 4. It’s Not Yours
With Ānanda (2nd)
6. Kinh Ānanda thứ hai
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
At Sāvatthī.
Sitting to one side, the Buddha said to Ānanda:
38. Nhân duyên ở Sāvatthī. Đức Thế Tôn đã nói điều này với Tôn giả Ānanda đang ngồi ở một nơi thích hợp:
“Sace taṁ, ānanda, evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha? Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati? Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti? Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha? Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati? Katamesaṁ dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti? Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ; tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha. Yā vedanā atītā niruddhā vipariṇatā; tassā uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitāya aññathattaṁ paññāyittha. Yā saññā … ye saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā; tesaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha. Yaṁ viññāṇaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ; tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha. Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
“Ānanda, suppose they were to ask you: ‘Reverend Ānanda, what are the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting are evident?’ How would you answer?”
“Sir, suppose they were to ask me: ‘Reverend Ānanda, what are the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident? What are the things for which arising, vanishing, and change while persisting are evident?’ I’d answer like this:
‘Whatever form has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. These are the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident.
“Này Ānanda, nếu họ hỏi ông như vầy: ‘Thưa hiền giả Ānanda, sự sanh khởi của những pháp nào đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ? Sự sanh khởi của những pháp nào sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ? Sự sanh khởi của những pháp nào đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ?’ Này Ānanda, khi được hỏi như vậy, ông sẽ trả lời như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con như vầy: ‘Thưa hiền giả Ānanda, sự sanh khởi của những pháp nào đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ? Sự sanh khởi của những pháp nào sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ? Sự sanh khởi của những pháp nào đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ?’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vầy: ‘Thưa chư hiền, sắc nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại; sự sanh khởi của sắc ấy đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ. Thọ nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại; sự sanh khởi của thọ ấy đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ. Tưởng nào… Các hành nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại; sự sanh khởi của chúng đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ. Thức nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại; sự sanh khởi của thức ấy đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ. Thưa chư hiền, sự sanh khởi của những pháp này đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ.’”
Yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ; tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati. Yā vedanā ajātā apātubhūtā; tassā uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitāya aññathattaṁ paññāyissati. Yā saññā …pe… ye saṅkhārā ajātā apātubhūtā; tesaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati. Yaṁ viññāṇaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ; tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati. Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Whatever form is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. These are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident.
“Thưa chư hiền, sắc nào chưa sanh, chưa xuất hiện; sự sanh khởi của sắc ấy sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ. Thọ nào chưa sanh, chưa xuất hiện; sự sanh khởi của thọ ấy sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ. Tưởng nào…này… Các hành nào chưa sanh, chưa xuất hiện; sự sanh khởi của chúng sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ. Thức nào chưa sanh, chưa xuất hiện; sự sanh khởi của thức ấy sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ. Thưa chư hiền, sự sanh khởi của những pháp này sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ.
Yaṁ kho, āvuso, rūpaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ; tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Yā vedanā jātā pātubhūtā …pe… yā saññā … ye saṅkhārā jātā pātubhūtā; tesaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Yaṁ viññāṇaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti. Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
Whatever form has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting is evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting are evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.’ That’s how I’d answer such a question.”
“Thưa chư hiền, sắc nào đã sanh, đã xuất hiện; sự sanh khởi của sắc ấy đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ. Thọ nào đã sanh, đã xuất hiện…này… Tưởng nào… Các hành nào đã sanh, đã xuất hiện; sự sanh khởi của chúng đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ. Thức nào đã sanh, đã xuất hiện; sự sanh khởi của thức ấy đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ. Thưa chư hiền, sự sanh khởi của những pháp này đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ.’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.”
“Sādhu sādhu, ānanda. Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ; tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha. Yā vedanā … yā saññā … ye saṅkhārā … yaṁ viññāṇaṁ atītaṁ niruddhaṁ vipariṇataṁ; tassa uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha. Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyittha, vayo paññāyittha, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyittha.
“Good, good, Ānanda. Whatever form has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has passed, ceased, and perished, its arising, vanishing, and change while persisting were evident. These are the things for which arising, vanishing, and change while persisting were evident.
“Lành thay, lành thay, này Ānanda! Này Ānanda, sắc nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại; sự sanh khởi của sắc ấy đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ. Thọ nào … tưởng nào… các hành nào… thức nào đã qua, đã diệt, đã biến hoại; sự sanh khởi của thức ấy đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ. Này Ānanda, sự sanh khởi của các pháp này đã được biết rõ, sự hoại diệt đã được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đã được biết rõ.”
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ; tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati. Yā vedanā … yā saññā … ye saṅkhārā … yaṁ viññāṇaṁ ajātaṁ apātubhūtaṁ; tassa uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati. Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyissati, vayo paññāyissati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyissati.
Whatever form is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness is not yet born, and has not yet appeared, its arising, vanishing, and change while persisting will be evident. These are the things for which arising, vanishing, and change while persisting will be evident.
“Này Ānanda, sắc nào chưa sanh, chưa xuất hiện; sự sanh khởi của sắc ấy sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ. Thọ nào… tưởng nào… các hành nào… thức nào chưa sanh, chưa xuất hiện; sự sanh khởi của thức ấy sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ. Này Ānanda, sự sanh khởi của các pháp này sẽ được biết rõ, sự hoại diệt sẽ được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại sẽ được biết rõ.”
Yaṁ kho, ānanda, rūpaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ; tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Yā vedanā jātā pātubhūtā … yā saññā … ye saṅkhārā … yaṁ viññāṇaṁ jātaṁ pātubhūtaṁ; tassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatīti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, evaṁ byākareyyāsī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Whatever form has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting are evident. Whatever feeling … perception … choices … consciousness has been born, and has appeared, its arising, vanishing, and change while persisting are evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.
That’s how you should answer such a question.”
“Này Ānanda, sắc nào đã sanh, đã xuất hiện; sự sanh khởi của sắc ấy đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ. Thọ nào đã sanh, đã xuất hiện… tưởng nào… các hành nào… thức nào đã sanh, đã xuất hiện; sự sanh khởi của thức ấy đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ. Này Ānanda, sự sanh khởi của các pháp này đang được biết rõ, sự hoại diệt đang được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại đang được biết rõ. Này Ānanda, khi được hỏi như vậy, ngươi nên trả lời như vậy.” (Kinh) thứ sáu.