- Saṁyutta Nikāya 22.37
- 4. Natumhākavagga
Ānandasutta
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando …pe… ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
Bản dịch
Ānandasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, nếu có người hỏi Ông: “Này Hiền giả Ānanda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Nếu được hỏi vậy, này Ānanda, Ông trả lời như thế nào?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, những pháp nào sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau:
Vi-n 5 “Trong sắc, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ … Trong tưởng … Trong các hành … Trong thức, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 6 —Lành thay, lành thay, này Ānanda! Này Ānanda, trong sắc sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ … Trong tưởng … Trong các hành … Trong thức, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Này Ānanda, trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi vậy, này Ānanda, Ông phải trả lời như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando …pe… ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
At Sāvatthī.
And then Venerable Ānanda … sitting to one side, the Buddha said to him:
37. Nhân duyên ở Sāvatthī. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã cùng với Thế Tôn nói lên những lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và đáng ghi nhớ, Tôn giả ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên như sau:
“Sace taṁ, ānanda, evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti? Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti? Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘rūpassa kho, āvuso, uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Vedanāya … saññāya … saṅkhārānaṁ … viññāṇassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Ānanda, suppose they were to ask you: ‘Reverend Ānanda, what are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident?’ How would you answer?”
“Sir, suppose they were to ask me: ‘What are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident?’ I’d answer like this:
‘Reverend, the arising of form is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. The arising of feeling … perception … choices … consciousness is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.’
That’s how I’d answer such a question.”
“Này Ānanda, nếu họ hỏi ông như vầy: ‘Thưa hiền giả Ānanda, sự sanh khởi của những pháp nào được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ?’ Này Ānanda, khi được hỏi như vậy, ông sẽ trả lời như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con như vầy: ‘Thưa hiền giả Ānanda, sự sanh khởi của những pháp nào được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ?’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vầy: ‘Thưa chư hiền, sự sanh khởi của sắc được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ. Của thọ… của tưởng… của các hành… sự sanh khởi của thức được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ. Thưa chư hiền, sự sanh khởi của những pháp này được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ.’ Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.”
“Sādhu sādhu, ānanda. Rūpassa kho, ānanda, uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Vedanāya … saññāya … saṅkhārānaṁ … viññāṇassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati. Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatīti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, evaṁ byākareyyāsī”ti.
Pañcamaṁ.
“Good, good, Ānanda. The arising of form is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. The arising of feeling … perception … choices … consciousness is evident, its vanishing is evident, and change while persisting is evident. These are the things for which arising is evident, vanishing is evident, and change while persisting is evident.
That’s how you should answer such a question.”
“Lành thay, lành thay, Ānanda! Này Ānanda, quả thật, sự sanh khởi của sắc được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ. Của thọ… của tưởng… của các hành… sự sanh khởi của thức được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ. Này Ānanda, quả thật, sự sanh khởi của những pháp này được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến khác của cái đang tồn tại được biết rõ. Này Ānanda, khi được hỏi như vậy, ông nên trả lời như vậy.” Hết bài kinh thứ năm.