- Saṁyutta Nikāya 22.28
- 3. Bhāravagga
Bản dịch
SN 22.28 — Kinh Vị Ngọt, Phần Thứ Ba
Tatiyaassādasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên tại Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của sắc, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của sắc cho nên các loài hữu tình có tham đắm đối với sắc.
Vi-n 4 —Này Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy hiểm của sắc, thời các loài hữu tình không có yếm ly đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm của sắc cho nên các loài hữu tình có yếm ly đối với sắc.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly đối với sắc, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với sắc. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly của sắc cho nên các loài hữu tình có sự xuất ly đối với sắc.
Vi-n 6-8. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của thọ …
Vi-n 9-11. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của tưởng …
Vi-n 12-14. Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của các hành …
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, nếu không có vị ngọt của thức, thời các loài hữu tình không có tham đắm đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có vị ngọt của thức cho nên các loài hữu tình có tham đắm đối với thức.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự nguy hiểm của thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự nguy hiểm đối với thức cho nên các loài hữu tình có yếm ly đối với thức.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, nếu không có sự xuất ly đối với thức, thời các loài hữu tình không có xuất ly đối với thức. Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, có sự xuất ly đối với thức cho nên các loài hữu tình có xuất ly đối với thức.
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình đối với năm thủ uẩn này không như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, không thể sống xuất ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.
Vi-n 19 Và này các Tỷ-kheo, khi nào các loài hữu tình đối với năm thủ uẩn này, như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời các loài hữu tình ấy, này các Tỷ-kheo, với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, có thể sống xuất ly, thoát sự liên hệ, giải thoát, với tâm tự tại.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.28
- 3. The Burden
Gratification (3rd)
7. Kinh Vị Ngọt, Phần Thứ Ba
Sāvatthinidānaṁ.
“No cedaṁ, bhikkhave, rūpassa assādo abhavissa nayidaṁ sattā rūpasmiṁ sārajjeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi rūpassa assādo, tasmā sattā rūpasmiṁ sārajjanti. No cedaṁ, bhikkhave, rūpassa ādīnavo abhavissa nayidaṁ sattā rūpasmiṁ nibbindeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi rūpassa ādīnavo, tasmā sattā rūpasmiṁ nibbindanti. No cedaṁ, bhikkhave, rūpassa nissaraṇaṁ abhavissa nayidaṁ sattā rūpasmā nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi rūpassa nissaraṇaṁ, tasmā sattā rūpasmā nissaranti.
No cedaṁ, bhikkhave, vedanāya …pe… no cedaṁ, bhikkhave, saññāya … no cedaṁ, bhikkhave, saṅkhārānaṁ nissaraṇaṁ abhavissa, nayidaṁ sattā saṅkhārehi nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi saṅkhārānaṁ nissaraṇaṁ, tasmā sattā saṅkhārehi nissaranti. No cedaṁ, bhikkhave, viññāṇassa assādo abhavissa, nayidaṁ sattā viññāṇasmiṁ sārajjeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi viññāṇassa assādo, tasmā sattā viññāṇasmiṁ sārajjanti. No cedaṁ, bhikkhave, viññāṇassa ādīnavo abhavissa, nayidaṁ sattā viññāṇasmiṁ nibbindeyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi viññāṇassa ādīnavo, tasmā sattā viññāṇasmiṁ nibbindanti. No cedaṁ, bhikkhave, viññāṇassa nissaraṇaṁ abhavissa, nayidaṁ sattā viññāṇasmā nissareyyuṁ. Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi viññāṇassa nissaraṇaṁ, tasmā sattā viññāṇasmā nissaranti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, if there were no gratification in form, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in form, sentient beings are aroused by it. If form had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since form has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from form, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from form, sentient beings do escape from it.
If there were no gratification in feeling … perception … choices … consciousness, sentient beings wouldn’t be aroused by it. But since there is gratification in consciousness, sentient beings are aroused by it. If consciousness had no drawback, sentient beings wouldn’t grow disillusioned with it. But since consciousness has a drawback, sentient beings do grow disillusioned with it. If there were no escape from consciousness, sentient beings wouldn’t escape from it. But since there is an escape from consciousness, sentient beings do escape from it.
28. Tại Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, nếu không có vị ngọt này của sắc, các chúng sanh này đã không tham đắm trong sắc. Và này các Tỳ khưu, vì có vị ngọt của sắc, do đó các chúng sanh tham đắm trong sắc. Này các Tỳ khưu, nếu không có sự nguy hại này của sắc, các chúng sanh này đã không nhàm chán sắc. Và này các Tỳ khưu, vì có sự nguy hại của sắc, do đó các chúng sanh nhàm chán sắc. Này các Tỳ khưu, nếu không có sự xuất ly này khỏi sắc, các chúng sanh này đã không thể xuất ly khỏi sắc. Và này các Tỳ khưu, vì có sự xuất ly khỏi sắc, do đó các chúng sanh xuất ly khỏi sắc. Này các Tỳ khưu, nếu không có (vị ngọt) của thọ... Này các Tỳ khưu, nếu không có (vị ngọt) của tưởng... Này các Tỳ khưu, nếu không có sự xuất ly này khỏi các hành, các chúng sanh này đã không thể xuất ly khỏi các hành. Và này các Tỳ khưu, vì có sự xuất ly khỏi các hành, do đó các chúng sanh xuất ly khỏi các hành. Này các Tỳ khưu, nếu không có vị ngọt này của thức, các chúng sanh này đã không tham đắm trong thức. Và này các Tỳ khưu, vì có vị ngọt của thức, do đó các chúng sanh tham đắm trong thức. Này các Tỳ khưu, nếu không có sự nguy hại này của thức, các chúng sanh này đã không nhàm chán thức. Và này các Tỳ khưu, vì có sự nguy hại của thức, do đó các chúng sanh nhàm chán thức. Này các Tỳ khưu, nếu không có sự xuất ly này khỏi thức, các chúng sanh này đã không thể xuất ly khỏi thức. Và này các Tỳ khưu, vì có sự xuất ly khỏi thức, do đó các chúng sanh xuất ly khỏi thức.
Yāvakīvañca, bhikkhave, sattā imesaṁ pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nābbhaññaṁsu; neva tāva, bhikkhave, sattā sadevakā lokā samārakā sabrahmakā sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya nissaṭā visaṁyuttā vippamuttā vimariyādīkatena cetasā vihariṁsu.
Yato ca kho, bhikkhave, sattā imesaṁ pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ abbhaññaṁsu; atha, bhikkhave, sattā sadevakā lokā samārakā sabrahmakā sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya nissaṭā visaṁyuttā vippamuttā vimariyādīkatena cetasā viharanti”.
Sattamaṁ.
As long as sentient beings don’t truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, they haven’t escaped from this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they don’t live detached, liberated, with mind free of limits.
But when sentient beings truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, they’ve escaped from this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—and they live detached, liberated, with mind free of limits.”
“Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào các chúng sanh chưa thắng tri như thật vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly của năm thủ uẩn này; thì khi ấy, này các Tỳ khưu, các chúng sanh vẫn chưa thoát ra, chưa tách rời, chưa giải thoát khỏi thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người, và chưa an trú với tâm không còn giới hạn. Và này các Tỳ khưu, khi nào các chúng sanh đã thắng tri như thật vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly của năm thủ uẩn này; thì khi ấy, này các Tỳ khưu, các chúng sanh đã thoát ra, đã tách rời, đã giải thoát khỏi thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người, và an trú với tâm không còn giới hạn.” Kinh thứ bảy.