- Saṁyutta Nikāya 22.27
- 3. Bhāravagga
Bản dịch
SN 22.27 — Kinh Vị Ngọt Thứ Hai
Dutiyaassādasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của sắc. Vị ngọt của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy hiểm của sắc. Sự nguy hiểm của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự nguy hiểm của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly của sắc. Sự xuất ly của sắc là gì, Ta đã chứng đắc. Sự xuất ly của sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 6-8. Này các Tỷ-kheo, Ta đi tìm cầu vị ngọt của thọ …
Vi-n 9-11. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của tưởng …
Vi-n 12-14. Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của các hành …
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu vị ngọt của thức. Vị ngọt của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Vị ngọt của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự nguy hiểm của thức. Nguy hiểm của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Nguy hiểm của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, Ta đã đi tìm cầu sự xuất ly của thức. Xuất ly của thức là gì, Ta đã chứng đắc. Xuất ly của thức như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.
Vi-n 18-19. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật biết vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là sự nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng … Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
Vi-n 20 Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: “Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.27
- 3. The Burden
Gratification (2nd)
6. Kinh Vị Ngọt Thứ Hai
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpassāhaṁ, bhikkhave, assādapariyesanaṁ acariṁ. Yo rūpassa assādo tadajjhagamaṁ. Yāvatā rūpassa assādo paññāya me so sudiṭṭho. Rūpassāhaṁ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṁ acariṁ. Yo rūpassa ādīnavo tadajjhagamaṁ. Yāvatā rūpassa ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho. Rūpassāhaṁ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṁ acariṁ. Yaṁ rūpassa nissaraṇaṁ tadajjhagamaṁ. Yāvatā rūpassa nissaraṇaṁ paññāya me taṁ sudiṭṭhaṁ.
Vedanāyāhaṁ, bhikkhave … saññāyāhaṁ, bhikkhave … saṅkhārānāhaṁ, bhikkhave … viññāṇassāhaṁ, bhikkhave, assādapariyesanaṁ acariṁ. Yo viññāṇassa assādo tadajjhagamaṁ. Yāvatā viññāṇassa assādo paññāya me so sudiṭṭho. Viññāṇassāhaṁ, bhikkhave, ādīnavapariyesanaṁ acariṁ. Yo viññāṇassa ādīnavo tadajjhagamaṁ. Yāvatā viññāṇassa ādīnavo paññāya me so sudiṭṭho. Viññāṇassāhaṁ, bhikkhave, nissaraṇapariyesanaṁ acariṁ. Yaṁ viññāṇassa nissaraṇaṁ tadajjhagamaṁ. Yāvatā viññāṇassa nissaraṇaṁ paññāya me taṁ sudiṭṭhaṁ.
Yāvakīvañcāhaṁ, bhikkhave, imesaṁ pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṁ nābbhaññāsiṁ …pe… abbhaññāsiṁ.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi:
At Sāvatthī.
“Mendicants, I went in search of form’s gratification, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of form’s gratification. I went in search of form’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of form’s drawback. I went in search of form’s escape, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of form’s escape.
I went in search of the gratification of feeling … perception … choices … and consciousness, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of consciousness’s gratification. I went in search of consciousness’s drawback, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of consciousness’s drawback. I went in search of consciousness’s escape, and I found it. I’ve seen clearly with wisdom the full extent of consciousness’s escape.
As long as I didn’t truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, I didn’t announce my supreme perfect awakening … But when I did truly understand these five grasping aggregates’ gratification, drawback, and escape for what they are, I announced my supreme perfect awakening …
Knowledge and vision arose in me:
27. Tại Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của sắc. Vị ngọt nào của sắc, Ta đã đạt được điều ấy. Trong chừng mực nào có vị ngọt của sắc, điều ấy đã được Ta thấy rõ bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã đi tìm kiếm sự nguy hại của sắc. Sự nguy hại nào của sắc, Ta đã đạt được điều ấy. Trong chừng mực nào có sự nguy hại của sắc, điều ấy đã được Ta thấy rõ bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã đi tìm kiếm sự xuất ly khỏi sắc. Sự xuất ly nào khỏi sắc, Ta đã đạt được điều ấy. Trong chừng mực nào có sự xuất ly khỏi sắc, điều ấy đã được Ta thấy rõ bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta (đã tìm kiếm) đối với thọ... Này các Tỳ khưu, Ta (đã tìm kiếm) đối với tưởng... Này các Tỳ khưu, Ta (đã tìm kiếm) đối với các hành... Này các Tỳ khưu, Ta đã đi tìm kiếm vị ngọt của thức. Vị ngọt nào của thức, Ta đã đạt được điều ấy. Trong chừng mực nào có vị ngọt của thức, điều ấy đã được Ta thấy rõ bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã đi tìm kiếm sự nguy hại của thức. Sự nguy hại nào của thức, Ta đã đạt được điều ấy. Trong chừng mực nào có sự nguy hại của thức, điều ấy đã được Ta thấy rõ bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, Ta đã đi tìm kiếm sự xuất ly khỏi thức. Sự xuất ly nào khỏi thức, Ta đã đạt được điều ấy. Trong chừng mực nào có sự xuất ly khỏi thức, điều ấy đã được Ta thấy rõ bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa thắng tri như thật vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly... (cho đến khi) Ta đã thắng tri. Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là đời sống cuối cùng; nay không còn tái sanh nữa.’” Kinh thứ sáu.
Chaṭṭhaṁ.
Này các Tỳ khưu, khi nào Ta chưa thắng tri như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly của năm thủ uẩn này như vậy, thì này các Tỳ khưu, khi ấy Ta chưa xác nhận rằng đã chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác trong thế giới gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Và này các Tỳ khưu, khi nào Ta đã thắng tri như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự xuất ly là sự xuất ly của năm thủ uẩn này như vậy, thì này các Tỳ khưu, khi ấy Ta đã xác nhận rằng đã chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác trong thế giới gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa.’ (Kinh) thứ năm.