- Saṁyutta Nikāya 22.2
- 1. Nakulapituvagga
Devadahasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Devadahasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo du hành ở phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.
—Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đã xin phép Sāriputta chưa?
—Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sāriputta.
—Này các Tỷ-kheo, vậy hãy xin phép Sāriputta. Sāriputta, này các Tỷ-kheo, là bậc Hiền trí, là người đỡ đầu các vị Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 4 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đang ngồi dưới cây ba đậu (elagalà: cassia), không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 5 Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, các vị ấy nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 6 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Sāriputta:
—Chúng tôi muốn, thưa Hiền giả Sāriputta, đi đến quốc độ phương Tây. Chúng tôi muốn trú ở quốc độ phương Tây. Bậc Ðạo Sư đã cho phép chúng tôi.
Vi-n 7 —Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, sẽ hỏi: “Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không?” Ðể khi trả lời, các Tôn giả có thể lập lại các ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, có thể trả lời tùy pháp, đúng với Chánh pháp, và không để một vị đồng phạm hạnh nào, nói lời đúng pháp, có thể có lý do để quở trách.
Vi-n 8 —Chúng tôi có thể đi đến thật xa, thưa Tôn giả, để nghe tận mặt Tôn giả Sāriputta nói về ý nghĩa của lời nói này! Lành thay, nếu được Tôn giả Sāriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!
Vi-n 9 —Vậy này các Hiền giả, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:
Vi-n 10 —Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí … các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: “Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?” Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời: “Này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham”.
Vi-n 11 Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm câu hỏi như sau: Có những vị Sát-đế-lị hiền trí … có những Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: “Ðối với cái gì, bậc Ðạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?” Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: “Ðối với sắc, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … đối với thức, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham”.
Vi-n 12 Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí … các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, có thể hỏi: “Nhưng thấy sự nguy hiểm gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?” Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Ông cần phải trả lời như sau: “Này các Hiền giả, đối với sắc, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … đối với thức, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này chư Hiền giả, do thấy sự nguy hiểm này đối với sắc mà bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói lên sự điều phục dục và tham”.
Vi-n 13 Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí … các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, (có thể hỏi): “Nhưng thấy sự lợi ích gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành; bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?” Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: “Ðối với sắc, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … đối với thức, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Do thấy sự lợi ích này, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành; bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức”.
Vi-n 14 Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các bất thiện pháp và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú, đây không phải là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.
Vi-n 15 Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các bất thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống bị đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Do vậy, đây là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.
Vi-n 16 Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Ðây không phải là sự thành tựu các thiện pháp được Thế Tôn tán thán.
Vi-n 17 Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú. Do vậy, đây là sự thành tựu các thiện pháp, được Thế Tôn tán thán.
Vi-n 18 Tôn giả Sāriputta thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sāriputta nói.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Devadaha
Atha kho sambahulā pacchābhūmagamikā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “icchāma mayaṁ, bhante, pacchābhūmaṁ janapadaṁ gantuṁ, pacchābhūme janapade nivāsaṁ kappetun”ti.
Then several mendicants who were heading for the west went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, we wish to go to a western land to take up residence there.”
2. Tôi nghe như vầy. Một thời, đức Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakya, tại một thị trấn của dòng họ Sakya tên là Devadaha. Lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang trên đường đi đến xứ Pacchābhūma đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến gần, các vị ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, chúng con muốn đi đến xứ Pacchābhūma, chúng con muốn an cư ở xứ Pacchābhūma.”
“Apalokito pana vo, bhikkhave, sāriputto”ti?
“Na kho no, bhante, apalokito āyasmā sāriputto”ti.
“Apaloketha, bhikkhave, sāriputtaṁ. Sāriputto, bhikkhave, paṇḍito, bhikkhūnaṁ anuggāhako sabrahmacārīnan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
“But mendicants, have you taken leave of Sāriputta?”
“No, sir, we haven’t.”
“You should take leave of Sāriputta. He’s astute, and supports his spiritual companions, the mendicants.”
“Yes, sir,” they replied.
“Này các tỳ khưu, các ông đã xin phép Sāriputta chưa?” “Bạch ngài, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sāriputta.” “Này các tỳ khưu, hãy đi xin phép Sāriputta. Này các tỳ khưu, Sāriputta là bậc trí tuệ, là người hỗ trợ cho các vị đồng phạm hạnh.” “Vâng, bạch ngài.” Các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp đức Thế Tôn.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhagavato avidūre aññatarasmiṁ eḷagalāgumbe nisinno hoti. Atha kho te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavocuṁ: “icchāma mayaṁ, āvuso sāriputta, pacchābhūmaṁ janapadaṁ gantuṁ, pacchābhūme janapade nivāsaṁ kappetuṁ. Apalokito no satthā”ti.
Now at that time Venerable Sāriputta was sitting not far from the Buddha in a clump of golden shower trees. And then those mendicants approved and agreed with what the Buddha said. They got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him, “Reverend Sāriputta, we wish to go to a western land to take up residence there. We have taken leave of the Teacher.”
Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đang ngồi trong một lùm cây eḷagalā không xa Thế Tôn. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải, rồi đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, họ đã cùng nhau thăm hỏi Tôn giả Sāriputta. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy bạch với Tôn giả Sāriputta rằng: – ‘Thưa hiền giả Sāriputta, chúng tôi muốn đi đến xứ Pacchābhūma, muốn an cư tại xứ Pacchābhūma. Bậc Đạo Sư đã được chúng tôi xin phép rồi.’
“Santi hāvuso, nānāverajjagataṁ bhikkhuṁ pañhaṁ pucchitāro—khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi. Paṇḍitā hāvuso, manussā vīmaṁsakā: ‘kiṁvādī panāyasmantānaṁ satthā kimakkhāyī’ti, kacci vo āyasmantānaṁ dhammā sussutā suggahitā sumanasikatā sūpadhāritā suppaṭividdhā paññāya, yathā byākaramānā āyasmanto vuttavādino ceva bhagavato assatha, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyātha, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyātha, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
“Reverends, there are those who question a mendicant who has gone abroad—astute aristocrats, brahmins, householders, and ascetics—for astute people are inquisitive: ‘But what does the venerables’ Teacher teach? What does he explain?’ I trust the venerables have properly heard, learned, applied the mind, and remembered the teachings, and penetrated them with wisdom. That way, when answering you will repeat what the Buddha has said and not misrepresent him with an untruth. You will explain in line with the teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism.”
‘Này các hiền giả, có những bậc trí thức Sát-đế-lỵ, trí thức Bà-la-môn, trí thức gia chủ, trí thức sa-môn, là những người thường hỏi các câu hỏi vị tỳ khưu đến từ các xứ khác nhau. Này các hiền giả, những người có trí là những người hay thẩm xét: ‘Bậc Đạo Sư của các Tôn giả chủ trương điều gì, tuyên thuyết điều gì?’ Này các Tôn giả, các pháp đã được quý vị nghe kỹ, thọ trì kỹ, tác ý kỹ, ghi nhớ kỹ, và khéo thể nhập bằng trí tuệ chưa, để khi trả lời, các Tôn giả sẽ là người nói đúng lời dạy của Thế Tôn, không vu khống Thế Tôn bằng điều không thật, trả lời pháp và tùy pháp, và không có một luận điểm hay hệ luận nào hợp pháp lại có thể đi đến chỗ bị khiển trách?’
“Dūratopi kho mayaṁ, āvuso, āgaccheyyāma āyasmato sāriputtassa santike etassa bhāsitassa atthamaññātuṁ. Sādhu vatāyasmantaṁyeva sāriputtaṁ paṭibhātu etassa bhāsitassa attho”ti.
“Tena hāvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Reverend, we would travel a long way to learn the meaning of this statement in the presence of Venerable Sāriputta. May Venerable Sāriputta himself please clarify the meaning of this.”
“Well then, reverends, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Sāriputta said this:
‘Thưa hiền giả, chúng con từ xa đến đây, đến trước Tôn giả Sāriputta, để biết ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, mong rằng ý nghĩa của lời nói này sẽ được hiển thị rõ ràng cho chính Tôn giả Sāriputta.’ ‘Này các hiền giả, nếu vậy, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, tôi sẽ nói.’ ‘Thưa vâng, hiền giả.’ – các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta đã nói điều này:
“Santi hāvuso, nānāverajjagataṁ bhikkhuṁ pañhaṁ pucchitāro—khattiyapaṇḍitāpi …pe… samaṇapaṇḍitāpi. Paṇḍitā hāvuso, manussā vīmaṁsakā: ‘kiṁvādī panāyasmantānaṁ satthā kimakkhāyī’ti? Evaṁ puṭṭhā tumhe, āvuso, evaṁ byākareyyātha: ‘chandarāgavinayakkhāyī kho no, āvuso, satthā’ti.
“Reverends, there are those who question a mendicant who has gone abroad—astute aristocrats, brahmins, householders, and ascetics—for astute people are inquisitive: ‘But what does the venerables’ Teacher teach? What does he explain?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘Reverend, our Teacher explained the removal of desire and lust.’
‘Này các hiền giả, có những bậc trí thức Sát-đế-lỵ... cho đến... trí thức sa-môn, là những người thường hỏi các câu hỏi vị tỳ khưu đến từ các xứ khác nhau. Này các hiền giả, những người có trí là những người hay thẩm xét: ‘Bậc Đạo Sư của các Tôn giả chủ trương điều gì, tuyên thuyết điều gì?’ Khi được hỏi như vậy, này các hiền giả, quý vị hãy trả lời như sau: ‘Này các hiền giả, Bậc Đạo Sư của chúng tôi thường tuyên thuyết về sự điều phục dục tham.’
Evaṁ byākatepi kho, āvuso, assuyeva uttariṁ pañhaṁ pucchitāro—khattiyapaṇḍitāpi …pe… samaṇapaṇḍitāpi. Paṇḍitā hāvuso, manussā vīmaṁsakā: ‘kismiṁ panāyasmantānaṁ chandarāgavinayakkhāyī satthā’ti? Evaṁ puṭṭhā tumhe, āvuso, evaṁ byākareyyātha: ‘rūpe kho, āvuso, chandarāgavinayakkhāyī satthā, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe chandarāgavinayakkhāyī satthā’ti.
When you answer like this, such astute people may inquire further: ‘But regarding what does the venerables’ teacher explain the removal of desire and lust?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘Our teacher explains the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness.’
‘Này các hiền giả, dù đã trả lời như vậy, vẫn có thể có những người hỏi thêm câu hỏi – những bậc trí thức Sát-đế-lỵ... cho đến... trí thức sa-môn. Này các hiền giả, những người có trí là những người hay thẩm xét: ‘Bậc Đạo Sư của các Tôn giả thường tuyên thuyết về sự điều phục dục tham trong lĩnh vực nào?’ Khi được hỏi như vậy, này các hiền giả, quý vị hãy trả lời như sau: ‘Này các hiền giả, Bậc Đạo Sư thường tuyên thuyết về sự điều phục dục tham đối với sắc, đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... Bậc Đạo Sư thường tuyên thuyết về sự điều phục dục tham đối với thức.’
Evaṁ byākatepi kho, āvuso, assuyeva uttariṁ pañhaṁ pucchitāro—khattiyapaṇḍitāpi …pe… samaṇapaṇḍitāpi. Paṇḍitā hāvuso, manussā vīmaṁsakā: ‘kiṁ panāyasmantānaṁ ādīnavaṁ disvā rūpe chandarāgavinayakkhāyī satthā, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe chandarāgavinayakkhāyī satthā’ti? Evaṁ puṭṭhā tumhe, āvuso, evaṁ byākareyyātha: ‘rūpe kho, āvuso, avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa avigatataṇhassa tassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Vedanāya … saññāya … saṅkhāresu avigatarāgassa …pe… avigatataṇhassa tesaṁ saṅkhārānaṁ vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Viññāṇe avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa avigatataṇhassa tassa viññāṇassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Idaṁ kho no, āvuso, ādīnavaṁ disvā rūpe chandarāgavinayakkhāyī satthā, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe chandarāgavinayakkhāyī satthā’ti.
When you answer like this, such astute people may inquire further: ‘But what drawback has he seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘If you’re not free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for form, when that form decays and perishes it gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. If you’re not free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for feeling … perception … choices … consciousness, when that consciousness decays and perishes it gives rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. This is the drawback our Teacher has seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness.’
‘Này các hiền giả, dù đã trả lời như vậy, vẫn có thể có những người hỏi thêm câu hỏi – những bậc trí thức Sát-đế-lỵ... cho đến... trí thức sa-môn. Này các hiền giả, những người có trí là những người hay thẩm xét: ‘Thấy sự nguy hại nào mà Bậc Đạo Sư của các Tôn giả thường tuyên thuyết về sự điều phục dục tham đối với sắc, đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức?’ Khi được hỏi như vậy, này các hiền giả, quý vị hãy trả lời như sau: ‘Này các hiền giả, đối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt não, chưa ly ái dục đối với sắc, do sự biến hoại và đổi khác của sắc ấy mà sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, đối với người chưa ly tham... cho đến... chưa ly ái dục, do sự biến hoại và đổi khác của các hành ấy mà sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Đối với thức, đối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt não, chưa ly ái dục, do sự biến hoại và đổi khác của thức ấy mà sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Này các hiền giả, thấy sự nguy hại này mà Bậc Đạo Sư của chúng tôi thường tuyên thuyết về sự điều phục dục tham đối với sắc, đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức.’
Evaṁ byākatepi kho, āvuso, assuyeva uttariṁ pañhaṁ pucchitāro—khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi samaṇapaṇḍitāpi. Paṇḍitā hāvuso, manussā vīmaṁsakā: ‘kiṁ panāyasmantānaṁ ānisaṁsaṁ disvā rūpe chandarāgavinayakkhāyī satthā, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe chandarāgavinayakkhāyī satthā’ti? Evaṁ puṭṭhā tumhe, āvuso, evaṁ byākareyyātha: ‘rūpe kho, āvuso, vigatarāgassa vigatacchandassa vigatapemassa vigatapipāsassa vigatapariḷāhassa vigatataṇhassa tassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Vedanāya … saññāya … saṅkhāresu vigatarāgassa vigatacchandassa vigatapemassa vigatapipāsassa vigatapariḷāhassa vigatataṇhassa tesaṁ saṅkhārānaṁ vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Viññāṇe vigatarāgassa vigatacchandassa vigatapemassa vigatapipāsassa vigatapariḷāhassa vigatataṇhassa tassa viññāṇassa vipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā. Idaṁ kho no, āvuso, ānisaṁsaṁ disvā rūpe chandarāgavinayakkhāyī satthā, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe chandarāgavinayakkhāyī satthā’ti.
When you answer like this, such astute people may inquire further: ‘But what benefit has he seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness?’ When questioned like this, reverends, you should answer: ‘If you are rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for form, when that form decays and perishes it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. If you are rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for feeling … perception … choices … consciousness, when that consciousness decays and perishes it doesn’t give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. This is the benefit our Teacher has seen that he teaches the removal of desire and lust for form, feeling, perception, choices, and consciousness.’
Này chư hiền, dầu đã được trả lời như vậy, vẫn có những người hỏi thêm câu hỏi nữa – những người trí thức Sát-đế-lỵ, những người trí thức Bà-la-môn, những người trí thức gia chủ, những người trí thức Sa-môn. Này chư hiền, những người có trí, những người thích tìm hiểu, họ sẽ hỏi: ‘Bậc Đạo Sư của chư tôn giả thấy được lợi ích gì mà lại thuyết giảng về việc điều phục tham dục ở sắc, ở thọ... ở tưởng... ở các hành... ở thức?’ Này chư hiền, khi được hỏi như vậy, các vị hãy trả lời như sau: ‘Này chư hiền, đối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã hết khao khát, đã hết phiền muộn, đã hết ái dục ở sắc, do sự biến đổi và đổi khác của sắc ấy, sầu, bi, khổ, ưu, não không sanh khởi. Đối với người đã ly tham... ở thọ... ở tưởng... ở các hành, do sự biến đổi và đổi khác của các hành ấy, sầu, bi, khổ, ưu, não không sanh khởi. Đối với người đã ly tham... ở thức, do sự biến đổi và đổi khác của thức ấy, sầu, bi, khổ, ưu, não không sanh khởi. Này chư hiền, chính vì thấy được lợi ích này mà bậc Đạo Sư của chúng tôi thuyết giảng về việc điều phục tham dục ở sắc, ở thọ... ở tưởng... ở các hành... ở thức.’
Akusale cāvuso, dhamme upasampajja viharato diṭṭhe ceva dhamme sukho vihāro abhavissa avighāto anupāyāso apariḷāho, kāyassa ca bhedā paraṁ maraṇā sugati pāṭikaṅkhā, nayidaṁ bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ vaṇṇeyya. Yasmā ca kho, āvuso, akusale dhamme upasampajja viharato diṭṭhe ceva dhamme dukkho vihāro savighāto saupāyāso sapariḷāho, kāyassa ca bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā, tasmā bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ vaṇṇeti.
If those who acquired and kept unskillful qualities were to live happily in the present life, free of distress, anguish, and fever; and if, when their body breaks up, after death, they could expect to go to a good place, the Buddha would not praise giving up unskillful qualities. But since those who acquire and keep unskillful qualities live unhappily in the present life, full of distress, anguish, and fever; and since, when their body breaks up, after death, they can expect to go to a bad place, the Buddha praises giving up unskillful qualities.
Này chư hiền, nếu người sống thành tựu các pháp bất thiện, trong hiện tại được sống an lạc, không phiền não, không ưu não, không nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, có thể mong đợi sanh vào thiện thú, thì Thế Tôn đã không tán thán việc từ bỏ các pháp bất thiện. Nhưng này chư hiền, vì rằng người sống thành tựu các pháp bất thiện, trong hiện tại phải sống đau khổ, có phiền não, có ưu não, có nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, phải mong đợi sanh vào ác thú, nên Thế Tôn tán thán việc từ bỏ các pháp bất thiện.
Kusale cāvuso, dhamme upasampajja viharato diṭṭhe ceva dhamme dukkho vihāro abhavissa savighāto saupāyāso sapariḷāho, kāyassa ca bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā, nayidaṁ bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ vaṇṇeyya. Yasmā ca kho, āvuso, kusale dhamme upasampajja viharato diṭṭhe ceva dhamme sukho vihāro avighāto anupāyāso apariḷāho, kāyassa ca bhedā paraṁ maraṇā sugati pāṭikaṅkhā, tasmā bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ vaṇṇetī”ti.
If those who embraced and kept skillful qualities were to live unhappily in the present life, full of distress, anguish, and fever; and if, when their body breaks up, after death, they could expect to go to a bad place, the Buddha would not praise embracing skillful qualities. But since those who embrace and keep skillful qualities live happily in the present life, free of distress, anguish, and fever; and since, when their body breaks up, after death, they can expect to go to a good place, the Buddha praises embracing skillful qualities.”
Này chư hiền, nếu người sống thành tựu các pháp thiện, trong hiện tại phải sống đau khổ, có phiền não, có ưu não, có nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, phải mong đợi sanh vào ác thú, thì Thế Tôn đã không tán thán việc thành tựu các pháp thiện. Nhưng này chư hiền, vì rằng người sống thành tựu các pháp thiện, trong hiện tại được sống an lạc, không phiền não, không ưu não, không nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, có thể mong đợi sanh vào thiện thú, nên Thế Tôn tán thán việc thành tựu các pháp thiện.
Idamavocāyasmā sāriputto. Attamanā te bhikkhū āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandunti.
Dutiyaṁ.
That is what Venerable Sāriputta said. Satisfied, the mendicants approved what Sāriputta said.
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Sāriputta. (Kinh thứ hai)