- Saṁyutta Nikāya 22.3
- 1. Nakulapituvagga
Hāliddikānisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Hāliddikānisutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kaccāna (Ma-ha Ca-chiên-diên) sống giữa các dân chúng Avanti, tại Kulaghara bên bờ một vực núi.
Vi-n 2 Rồi gia chủ Hàliddikàni đi đến Tôn giả Mahà Kaccāna; sau khi đi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Kaccāna rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, gia chủ Hàliddikàni nói với Tôn Giả Mahà Kaccāna:
- Thưa Tôn Giả, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Māgandiya” như sau:
“Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng,
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai”.
Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, thưa Tôn giả, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Vi-n 4 —Sắc giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham sắc giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thọ giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thọ giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Tưởng giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham tưởng giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Hành giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham hành giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Thức giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thức giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có gia đình.
Vi-n 8 Và này Gia chủ, thế nào là du hành không gia đình?
Vi-n 9 Ðối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.
Vi-n 10 Ðối với thọ giới, này Gia chủ …
Vi-n 11 Ðối với tưởng giới, này Gia chủ …
Vi-n 12 Ðối với hành giới, này Gia chủ …
Vi-n 13 Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.
Vi-n 14 Như vậy, này Gia chủ, là du hành không gia đình.
Vi-n 15 Như thế nào, này Gia chủ, là du hành có trú xứ? Bị trói buộc bởi an trú chấp trước (niketa-visàra) vào sắc tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ … vào thanh tướng … vào hương tướng … vào vị tướng … vào xúc tướng. Bị trói buộc bởi an trú chấp trước vào pháp tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có trú xứ.
Vi-n 16 Như thế nào là du hành không trú xứ? Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào sắc tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ. Sự trói buộc bởi an trú chấp trước vào thanh tướng … vào hương tướng … vào vị tướng … vào xúc tướng … vào pháp tướng, này Gia chủ, đối với Như Lai đã được đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không trú xứ.
Vi-n 17 Như vậy, này Gia chủ, là du hành không trú xứ.
Vi-n 18 Như thế nào, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, có người sống thân mật với gia chủ, cùng vui, cùng buồn. Giữa những người sung sướng, vị ấy sung sướng. Giữa những người buồn khổ, vị ấy buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, tự liên hệ mình vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng.
Vi-n 19 Và như thế nào, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không sống quá thân mật với gia chủ, không cùng vui, không cùng buồn, không vui sướng giữa những người sung sướng, không buồn khổ giữa những người buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, không tự mình liên hệ vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là không tác thành hệ lụy trong làng.
Vi-n 20 Như thế nào, này Gia chủ, là không tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người không ly tham đối với các dục vọng, không ly dục, không ly ái, không ly khát, không ly nhiệt não, không ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là không tuyệt không đối với các dục.
Vi-n 21 Như thế nào, này Gia chủ, là tuyệt không các dục vọng? Ở đây, này Gia chủ, có người ly tham đối với các dục, ly dục, ly ái, ly khát, ly nhiệt não, ly khát ái. Như vậy, này Gia chủ, là tuyệt không các dục.
Vi-n 22 Như thế nào, này Gia chủ, là hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là hư vọng hão huyền.
Vi-n 23 Như thế nào, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền? Ở đây, này Gia chủ, có người không có suy nghĩ như sau: “Mong rằng có sắc như vậy trong tương lai! Mong rằng có thọ như vậy trong tương lai! Mong rằng có tưởng như vậy trong tương lai! Mong rằng có các hành như vậy trong tương lai! Mong rằng có thức như vậy trong tương lai!” Như vậy, này Gia chủ, là không hy vọng hão huyền.
Vi-n 24 Như thế nào, này Gia chủ, là tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, có người nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này. Ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã phạm vào tà kiến. Ta mới thật đúng chánh kiến. Những điều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Những điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói của ta mới tương ưng. Lời nói của Ông không tương ưng. Chủ kiến của Ông đã bị bài bác. Câu nói của Ông đã bị thách đố. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Ông đã bị thuyết bại. Nếu có thể được, hãy gắng thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là tranh luận với người.
Vi-n 25 Như thế nào, này Gia chủ, là không tranh luận với người? Ở đây, này Gia chủ, vị Tỷ-kheo không nói lời nói như sau: “Ông không biết Pháp và Luật này …. Hãy thoát ra khỏi lối bí”. Như vậy, này Gia chủ, là không tranh luận với người.
Vi-n 26 Như vậy, này Gia chủ, Thế Tôn đã nói trong phẩm thứ tám, trong tập: “Các câu hỏi của Māgandiya” như sau:
“Bậc Thánh bỏ gia đình,
Du hành không trú xứ,
Ðối với dân trong làng,
Không tác thành hệ lụy.
Tuyệt không các dục vọng.
Không ước vọng hão huyền,
Chấm dứt mọi tranh luận,
Bất cứ với một ai”.
Với lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, này Gia chủ, ý nghĩa cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Hāliddikāni
Atha kho hāliddikāni gahapati yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho hāliddikāni gahapati āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca: “vuttamidaṁ, bhante, bhagavatā aṭṭhakavaggiye māgaṇḍiyapañhe:
Then the householder Hāliddikāni went up to Venerable Mahākaccāna, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, this was said by the Buddha in the Chapter of the Eights, in ‘The Questions of Māgandiya’:
3. Tôi nghe như vầy. Một thời, Tôn giả Mahākaccāna trú ở xứ Avantī, tại Kuraraghara, trên một ngọn núi có vách đá cheo leo. Bấy giờ, gia chủ Hāliddikāni đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahākaccāna rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Hāliddikāni bạch Tôn giả Mahākaccāna: – Thưa Tôn giả, điều này đã được Thế Tôn nói đến trong Phẩm Tám, trong câu hỏi của Māgaṇḍiya:
‘Okaṁ pahāya aniketasārī, Gāme akubbaṁ muni santhavāni; Kāmehi ritto apurakkharāno, Kathaṁ na viggayha janena kayirā’ti.
‘After leaving their bastion to migrate without abode, a sage doesn’t get close to anyone in town. Rid of sensual pleasures, not expecting, they wouldn’t get in arguments with people.’
Từ bỏ trú xứ, không nương tựa trú xứ, bậc Thánh không giao du trong làng; trống không các dục, không mong cầu tương lai, vị ấy không tranh luận với người đời.
Imassa nu kho, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
How should we see the detailed meaning of the Buddha’s brief statement?”
“Thưa ngài, ý nghĩa của lời nói vắn tắt này của đức Thế Tôn nên được hiểu một cách chi tiết như thế nào?”
“Rūpadhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko. Rūpadhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati. Vedanādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko. Vedanādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati. Saññādhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko. Saññādhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati. Saṅkhāradhātu kho, gahapati, viññāṇassa oko. Saṅkhāradhāturāgavinibandhañca pana viññāṇaṁ ‘okasārī’ti vuccati. Evaṁ kho, gahapati, okasārī hoti.
Kathañca, gahapati, anokasārī hoti? Rūpadhātuyā kho, gahapati, yo chando yo rāgo yā nandī yā taṇhā ye upayupādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā te tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Tasmā tathāgato ‘anokasārī’ti vuccati.
“Householder, the form element is a bastion for consciousness. One whose consciousness is shackled by greed for the form element is called a migrant going from bastion to bastion. The feeling element is a bastion for consciousness. One whose consciousness is shackled to greed for the feeling element is called a migrant going from bastion to bastion. The perception element is a bastion for consciousness. One whose consciousness is shackled to greed for the perception element is called a migrant going from bastion to bastion. The choices element is a bastion for consciousness. One whose consciousness is shackled to greed for the choices element is called a migrant going from bastion to bastion. That’s how one is a migrant going from bastion to bastion.
And how is one a migrant with no bastion? The Realized One has given up any desire, greed, relishing, and craving for the form element; any attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendencies. He has cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s why the Realized One is called a migrant with no bastion.
Này gia chủ, đối với thọ giới... Này gia chủ, đối với tưởng giới... Này gia chủ, đối với hành giới... Này gia chủ, đối với thức giới, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly những dục, những tham, những hỷ, những ái, những chấp thủ, những quyết định, những thiên kiến, những tùy miên của tâm, tâm được gọi là khéo giải thoát.
Kathañca, gahapati, niketasārī hoti? Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, ‘niketasārī’ti vuccati. Saddanimitta …pe… gandhanimitta … rasanimitta …
And how is one a migrant going from abode to abode? Shackled to chasing the abodes that are the features of sights, one is called a migrant going from abode to abode. Shackled to chasing the abodes that are the features of sounds … smells … tastes …
Này gia chủ, đối với sắc giới, do sự đoạn tận, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả ly những dục, những tham, những hỷ, những ái, những chấp thủ, những quyết định, những thiên kiến, những tùy miên của tâm, tâm được gọi là khéo giải thoát.
“Này gia chủ, thế nào là người có nơi nương tựa? Này gia chủ, người bị các trói buộc của sự lan tỏa phiền não trong nơi ở là tướng của sắc được gọi là ‘người có nơi nương tựa’. Tướng của âm thanh... ... tướng của hương... tướng của vị... tướng của xúc... người bị các trói buộc của sự lan tỏa phiền não trong nơi ở là tướng của pháp được gọi là ‘người có nơi nương tựa’. Này gia chủ, như vậy là người có nơi nương tựa.”
Kathañca, gahapati, aniketasārī hoti? Rūpanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Tasmā tathāgato ‘aniketasārī’ti vuccati. Saddanimitta … gandhanimitta … rasanimitta … phoṭṭhabbanimitta … dhammanimittaniketavisāravinibandhā kho, gahapati, tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Tasmā tathāgato ‘aniketasārī’ti vuccati. Evaṁ kho, gahapati, aniketasārī hoti.
And how is one a migrant without abode? The Realized One has given up being shackled to chasing the abodes that are the features of sights. He has cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s why the Realized One is called a migrant without abode. The Realized One has given up being shackled to chasing the abodes that are the features of sounds … smells … tastes … touches … ideas. He has cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. That’s why the Realized One is called a migrant without abode. That’s how one is a migrant without abode.
“Này gia chủ, thế nào là người không có nơi nương tựa? Này gia chủ, đối với Như Lai, các trói buộc của sự lan tỏa phiền não trong nơi ở là tướng của sắc đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây thốt nốt, đã được làm cho không hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai. Do đó, Như Lai được gọi là ‘người không có nơi nương tựa’. Tướng của âm thanh... tướng của hương... tướng của vị... tướng của xúc... đối với Như Lai, các trói buộc của sự lan tỏa phiền não trong nơi ở là tướng của pháp đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây thốt nốt, đã được làm cho không hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai. Do đó, Như Lai được gọi là ‘người không có nơi nương tựa’. Này gia chủ, như vậy là người không có nơi nương tựa.”
Kathañca, gahapati, gāme santhavajāto hoti?
And how does one get close to people in town?
Và này gia chủ, thế nào là người không nương tựa trú xứ? Này gia chủ, đối với sắc giới, những dục, những tham, những hỷ, những ái, những sự dính mắc và chấp thủ, những quyết định, cố chấp, tùy miên của tâm, tất cả những thứ ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Vì vậy, Như Lai được gọi là ‘không nương tựa trú xứ’. Này gia chủ, đối với thọ giới... Này gia chủ, đối với tưởng giới... Này gia chủ, đối với hành giới... Này gia chủ, đối với thức giới, những dục, những tham, những hỷ, những ái, những sự dính mắc và chấp thủ, những quyết định, cố chấp, tùy miên của tâm, tất cả những thứ ấy đã được Như Lai đoạn tận, cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Vì vậy, Như Lai được gọi là ‘không nương tựa trú xứ’. Này gia chủ, như vậy là người không nương tựa trú xứ.
“Này gia chủ, thế nào là người có sự thân quen trong làng? Này gia chủ, ở đây, có người sống giao du với hàng tại gia, cùng vui, cùng buồn; khi họ sung sướng thì mình sung sướng, khi họ đau khổ thì mình đau khổ; khi có các công việc cần làm khởi sanh, tự mình dấn thân vào trong ấy. Này gia chủ, như vậy là người có sự thân quen trong làng.”
Kathañca, gahapati, gāme na santhavajāto hoti? Idha, gahapati, bhikkhu gihīhi asaṁsaṭṭho viharati na sahanandī na sahasokī na sukhitesu sukhito na dukkhitesu dukkhito, uppannesu kiccakaraṇīyesu na attanā tesu yogaṁ āpajjati. Evaṁ kho, gahapati, gāme na santhavajāto hoti.
And how does one not get close to people in town? It’s when a mendicant doesn’t mix closely with laypeople, not sharing their joys and sorrows—not happy when they’re happy or sad when they’re sad—and not getting themselves involved in their business. That’s how one doesn’t get close to people in town.
“Này gia chủ, thế nào là người không có sự thân quen trong làng? Này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu sống không giao du với hàng tại gia, không cùng vui, không cùng buồn, khi họ sung sướng thì không sung sướng, khi họ đau khổ thì không đau khổ, khi có các công việc cần làm khởi sanh, vị ấy không tự mình dấn thân vào trong ấy. Này gia chủ, như vậy là người không có sự thân quen trong làng.”
Kathañca, gahapati, kāmehi aritto hoti? Idha, gahapati, ekacco kāmesu avigatarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho. Evaṁ kho, gahapati, kāmehi aritto hoti.
And how is one not rid of sensual pleasures? It’s when someone isn’t rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. That’s how one is not rid of sensual pleasures.
“Này gia chủ, thế nào là người không trống rỗng khỏi các dục? Này gia chủ, ở đây, có người đối với các dục vẫn chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa hết khao khát, chưa hết nhiệt não, chưa hết ái dục. Này gia chủ, như vậy là người không trống rỗng khỏi các dục.”
Kathañca, gahapati, kāmehi ritto hoti? Idha, gahapati, ekacco kāmesu vigatarāgo hoti vigatacchando vigatapemo vigatapipāso vigatapariḷāho vigatataṇho. Evaṁ kho, gahapati, kāmehi ritto hoti.
And how is one rid of sensual pleasures? It’s when someone is rid of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures. That’s how one is rid of sensual pleasures.
“Này gia chủ, thế nào là người trống rỗng khỏi các dục? Này gia chủ, ở đây, có người đối với các dục đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã hết khao khát, đã hết nhiệt não, đã hết ái dục. Này gia chủ, như vậy là người trống rỗng khỏi các dục.”
Kathañca, gahapati, purakkharāno hoti? Idha, gahapati, ekaccassa evaṁ hoti: ‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti. Evaṁ kho, gahapati, purakkharāno hoti.
And how is one expecting? It’s when someone thinks: ‘In the future, may I be of such form, such feeling, such perception, such choices, and such consciousness!’ That’s how one is expecting.
“Này gia chủ, thế nào là người có đặt để ở phía trước? Này gia chủ, ở đây, có người có ý nghĩ như vầy: ‘Mong rằng trong tương lai ta sẽ có sắc như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có tưởng như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có hành như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như thế này.’ Này gia chủ, như vậy là người có đặt để ở phía trước.”
Kathañca, gahapati, apurakkharāno hoti? Idha, gahapati, ekaccassa na evaṁ hoti: ‘evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁvedano siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsañño siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁsaṅkhāro siyaṁ anāgatamaddhānaṁ, evaṁviññāṇo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti. Evaṁ kho, gahapati, apurakkharāno hoti.
And how is one not expecting? It’s when someone doesn’t think: ‘In the future, may I be of such form, such feeling, such perception, such choices, and such consciousness!’ That’s how one is not expecting.
“Này gia chủ, thế nào là người không có đặt để ở phía trước? Này gia chủ, ở đây, có người không có ý nghĩ như vầy: ‘Mong rằng trong tương lai ta sẽ có sắc như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có tưởng như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có hành như thế này, mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như thế này.’ Này gia chủ, như vậy là người không có đặt để ở phía trước.”
Kathañca, gahapati, kathaṁ viggayha janena kattā hoti? Idha, gahapati, ekacco evarūpiṁ kathaṁ kattā hoti: ‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi; ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi? Micchāpaṭipanno tvamasi; ahamasmi sammāpaṭipanno. Pure vacanīyaṁ pacchā avaca; pacchā vacanīyaṁ pure avaca. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ. Āropito te vādo; cara vādappamokkhāya. Niggahitosi; nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti. Evaṁ kho, gahapati, kathaṁ viggayha janena kattā hoti.
And how does one argue with people? It’s when someone takes part in this sort of discussion: ‘You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. I stay on topic, you don’t. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!’ That’s how one argues with people.
“Này gia chủ, thế nào là người có thói quen nói lời tranh luận với người khác? Này gia chủ, ở đây, có người có thói quen nói lời như thế này: ‘Ông không biết Pháp và Luật này; tôi biết Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông đã thực hành sai; tôi đã thực hành đúng. Điều đáng nói trước thì ông lại nói sau; điều đáng nói sau thì ông lại nói trước. Lời của tôi thì hợp lý, lời của ông thì không hợp lý. Điều ông đã nghiên cứu từ lâu đã bị đảo ngược. Lời buộc tội đã được đưa ra chống lại ông; hãy đi tìm cách thoát khỏi lời buộc tội. Ông đã bị đánh bại; hãy gỡ ra nếu ông có thể.’ Này gia chủ, như vậy là người có thói quen nói lời tranh luận với người khác.”
Kathañca, gahapati, kathaṁ na viggayha janena kattā hoti? Idha, gahapati, bhikkhu na evarūpiṁ kathaṁ kattā hoti: ‘na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi …pe… nibbeṭhehi vā sace pahosī’ti. Evaṁ kho, gahapati, kathaṁ na viggayha janena kattā hoti.
And how does one not argue with people? It’s when a mendicant doesn’t take part in this sort of discussion: ‘You don’t understand this teaching and training … get yourself out of this—if you can!’ That’s how one doesn’t argue with people.
“Này gia chủ, thế nào là người không có thói quen nói lời tranh luận với người khác? Này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu không có thói quen nói lời như thế này: ‘Ông không biết Pháp và Luật này... ... hãy gỡ ra nếu ông có thể.’ Này gia chủ, như vậy là người không có thói quen nói lời tranh luận với người khác.”
Iti kho, gahapati, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā aṭṭhakavaggiye māgaṇḍiyapañhe:
So, householder, that’s how to understand the detailed meaning of what the Buddha said in brief in the Chapter of the Eights, in ‘The Questions of Māgandiya’:
“Này gia chủ, như vậy, điều đã được đức Thế Tôn nói đến trong Phẩm Tám Vần, trong câu hỏi của Māgaṇḍiya là –”
‘Okaṁ pahāya aniketasārī, Gāme akubbaṁ munisanthavāni; Kāmehi ritto apurakkharāno, Kathaṁ na viggayha janena kayirā’ti.
‘After leaving their bastion to migrate without abode, a sage doesn’t get close to anyone in town. Rid of sensual pleasures, not expecting, they wouldn’t get in arguments with people.’”
“‘Từ bỏ nơi ở, không có nơi nương tựa, bậc ẩn sĩ không tạo sự thân quen trong làng; trống rỗng khỏi các dục, không có đặt để ở phía trước, vị ấy sẽ không nói lời tranh luận với người khác.’”
Imassa kho, gahapati, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Tatiyaṁ.
“Này gia chủ, ý nghĩa của lời nói vắn tắt này của đức Thế Tôn nên được hiểu một cách chi tiết như vậy.” Hết kinh thứ ba.