- Saṁyutta Nikāya 22.122
- 12. Dhammakathikavagga
Bản dịch
SN 22.122 — Kinh Vị Có Giới
Sīlavantasutta
Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bārānasī (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2-3. Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sāriputta … thưa như sau:
—Thưa Hiền giả Sāriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
Vi-n 4 —Này Hiền giả Kotthika, Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Vi-n 5 Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Vi-n 6 Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỷ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường … vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
Vi-n 7 —Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sāriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
Vi-n 8-9. —Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường … vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường … vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
Vi-n 10 —Nhưng Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sāriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
Vi-n 11 —Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường … vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường … vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
Vi-n 12 —Nhưng Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sāriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
Vi-n 13-15. —Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường … vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường … vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
Vi-n 16 —Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sāriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
Vi-n 17 —Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Vi-n 18 Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.122
- 12. A Dhamma speaker
An Ethical Mendicant
10. Kinh Vị Có Giới
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye. Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami …pe… etadavoca:
“sīlavatāvuso, sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasikātabbā”ti?
“Sīlavatāvuso, koṭṭhika, bhikkhunā pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato yoniso manasi kātabbā. Katame pañca? Seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Sīlavatāvuso, koṭṭhika, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato yoniso manasi kātabbā. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ sīlavā bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato …pe… anattato yoniso manasi karonto sotāpattiphalaṁ sacchikareyyā”ti.
At one time Venerable Sāriputta and Venerable Mahākoṭṭhita were staying near Varanasi in the deer park at Isipatana. Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and said:
“Reverend Sāriputta, what things should an ethical mendicant rationally apply the mind to?”
“Reverend Koṭṭhita, an ethical mendicant should rationally apply the mind to the five grasping aggregates as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. What five? That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness. An ethical mendicant should rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. It’s possible that an ethical mendicant who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of stream-entry.”
123. Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhika trú tại Bārāṇasī, ở Isipatana, Migadāya. Rồi Tôn giả Mahākoṭṭhika, vào buổi chiều, từ nơi độc cư đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, … cho đến … đã nói điều này:
“Sotāpannena panāvuso sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasi kātabbā”ti?
“Sotāpannenapi kho, āvuso koṭṭhika, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato …pe… anattato yoniso manasi kātabbā. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ sotāpanno bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato …pe… anattato yoniso manasi karonto sakadāgāmiphalaṁ sacchikareyyā”ti.
“But Reverend Sāriputta, what things should a mendicant stream-enterer rationally apply the mind to?”
“A mendicant stream-enterer should also rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a mendicant stream-enterer who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of once-return.”
“Thưa hiền giả Sāriputta, vị tỳ khưu Dự Lưu nên như lý tác ý những pháp nào?” “Này hiền giả Koṭṭhika, vị tỳ khưu Dự Lưu cũng nên như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, … cho đến … là vô ngã. Này hiền giả, có trường hợp này, khi vị tỳ khưu Dự Lưu như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, … cho đến … là vô ngã, vị ấy có thể chứng ngộ quả Nhất Lai, … cho đến … quả Bất Lai, … cho đến … quả A-la-hán.”
“Sakadāgāminā panāvuso sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasi kātabbā”ti?
“Sakadāgāmināpi kho, āvuso koṭṭhika, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato …pe… anattato yoniso manasi kātabbā. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ sakadāgāmī bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato …pe… anattato yoniso manasi karonto anāgāmiphalaṁ sacchikareyyā”ti.
“Anāgāminā panāvuso sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasi kātabbā”ti?
“Anāgāmināpi kho, āvuso koṭṭhika, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato …pe… anattato yoniso manasi kātabbā. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ anāgāmī bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato …pe… anattato yoniso manasi karonto arahattaṁ sacchikareyyā”ti.
“Arahatā panāvuso sāriputta, katame dhammā yoniso manasi kātabbā”ti?
“But Reverend Sāriputta, what things should a mendicant once-returner rationally apply the mind to?”
“A mendicant once-returner should also rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a mendicant once-returner who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize the fruit of non-return.”
“But Reverend Sāriputta, what things should a mendicant non-returner rationally apply the mind to?”
“A mendicant non-returner should also rationally apply the mind to these five grasping aggregates as impermanent … as not-self. It’s possible that a mendicant non-returner who rationally applies the mind to the five grasping aggregates will realize perfection.”
“But Reverend Sāriputta, what things should a perfected one rationally apply the mind to?”
“Thưa hiền giả Sāriputta, vị tỳ khưu đa văn nên như lý tác ý những pháp nào?” “Này hiền giả Koṭṭhika, vị tỳ khưu đa văn nên như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, … cho đến … là vô ngã. Năm uẩn nào? Tức là: sắc thủ uẩn, … cho đến … thức thủ uẩn. Này hiền giả Koṭṭhika, vị tỳ khưu đa văn nên như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, … cho đến … là vô ngã. Này hiền giả, có trường hợp này, khi vị tỳ khưu đa văn như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, … cho đến … là vô ngã, vị ấy có thể chứng ngộ quả Dự Lưu.”
“Arahatāpi kho, āvuso koṭṭhika, ime pañcupādānakkhandhe aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato yoniso manasi kātabbā. Natthi, khvāvuso, arahato uttari karaṇīyaṁ katassa vā paticayo; api ca ime dhammā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihārāya ceva saṁvattanti satisampajaññāya cā”ti.
Dasamaṁ.
“Reverend Koṭṭhita, a perfected one should also rationally apply the mind to the five grasping aggregates as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. A perfected one has nothing more to do, and nothing that needs improvement. Still, these things, when developed and cultivated, lead to blissful meditation in this life, and also to mindfulness and situational awareness.”
“Thưa hiền giả Sāriputta, vị A-la-hán nên như lý tác ý những pháp nào?” “Này hiền giả Koṭṭhika, vị A-la-hán cũng nên như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là tai họa, là ốm đau, là cái khác, là hoại diệt, là trống không, là vô ngã. Này hiền giả, đối với vị A-la-hán, không có việc gì cao hơn cần phải làm, hay cần phải tích lũy thêm cho những gì đã làm. Tuy nhiên, những pháp này khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự an lạc trong hiện tại và đưa đến chánh niệm tỉnh giác.” (Kinh thứ mười một)