- Saṁyutta Nikāya 22.101
- 10. Pupphavagga
Bản dịch
SN 22.101 — Kinh Vāsijaṭa
Vāsijaṭasutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Do biết, do thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc, không phải do không biết, do không thấy.
Vi-n 4 Do biết cái gì, thấy cái gì, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là các hành … Ðây là thức. Ðây là thức tập khởi. Ðây là thức đoạn diệt. Do biết như vậy, do thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, như có Tỷ-kheo sống không chí tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm của vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.
Vi-n 6 Vì sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ. Không có tu tập Bốn chánh cần. Không có tu tập Bốn như ý túc. Không có tu tập Năm căn. Không có tu tập Năm lực. Không có tu tập Bảy giác chi. Không có tu tập Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.
Vi-n 8 Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vi-n 9 Vì sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Vi-n 10 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, có chấp thủ.
Vi-n 11 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ … Không có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 13 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần. Có tu tập Bốn như ý túc. Có tu tập Năm căn. Có tu tập Năm lực. Có tu tập Bảy giác chi. Có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 14 Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng các con gà con của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn”; tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được xuất sanh một cách an toàn.
Vi-n 15 Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Vi-n 16 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sống chí tâm tu tập. Dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 17 Vì sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ … có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.
Vi-n 18 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ đá hay đệ tử người thợ đá, khi nhìn vào cán búa thấy dấu các ngón tay và dấu các ngón tay cái. Vị ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay, từng ấy cán búa của ta bị hao mòn; hôm nay từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.
Vi-n 19 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo chí tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay, từng ấy lậu hoặc của ta được hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được các lậu hoặc được hao mòn trên sự hao mòn các lậu hoặc.
Vi-n 20 Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển có đầy đủ cột buồm và dây buồm, bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa khô; các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng, rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng trở thành yếu và hư nát.
Vi-n 21 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chí tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và hư nát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.101
- 10. Flowers
The Adze
9. Kinh Vāsijaṭa
Sāvatthinidānaṁ.
“Jānato ahaṁ, bhikkhave, passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi, no ajānato no apassato. Kiñca, bhikkhave, jānato kiṁ passato āsavānaṁ khayo hoti? ‘Iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā … iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti—evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato āsavānaṁ khayo hoti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I say that the ending of defilements is for one who knows and sees, not for one who does not know or see. For one who knows and sees what? ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ The ending of the defilements is for one who knows and sees this.
101. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc là dành cho người biết, người thấy, chứ không phải cho người không biết, người không thấy. Và này các Tỳ khưu, biết gì, thấy gì mà có sự đoạn tận các lậu hoặc? ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Này các Tỳ khưu, chính do biết như vậy, thấy như vậy mà có sự đoạn tận các lậu hoặc.
Bhāvanānuyogaṁ ananuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati. Taṁ kissa hetu? ‘Abhāvitattā’ tissa vacanīyaṁ. Kissa abhāvitattā? Abhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, abhāvitattā catunnaṁ sammappadhānānaṁ, abhāvitattā catunnaṁ iddhipādānaṁ, abhāvitattā pañcannaṁ indriyānaṁ, abhāvitattā pañcannaṁ balānaṁ, abhāvitattā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, abhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
When a mendicant is not committed to development, they might wish: ‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is not freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they’re undeveloped.’ Undeveloped in what? Undeveloped in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu sống không chuyên tâm tu tập thiền định, dầu cho mong muốn như vầy có thể khởi lên: ‘Ôi, mong sao tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ!’, nhưng rồi tâm của vị ấy vẫn không được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Vì sao vậy? Phải nói rằng: ‘Vì không được tu tập.’ Vì không tu tập điều gì? Vì không tu tập Bốn Niệm Xứ, vì không tu tập Bốn Chánh Cần, vì không tu tập Bốn Như Ý Túc, vì không tu tập Năm Căn, vì không tu tập Năm Lực, vì không tu tập Bảy Giác Chi, vì không tu tập Thánh Đạo Tám Ngành.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā. Tānassu kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni. Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti, atha kho abhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ. Taṁ kissa hetu? Tathā hi pana, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā; tāni kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ ananuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati. Taṁ kissa hetu? ‘Abhāvitattā’tissa vacanīyaṁ. Kissa abhāvitattā? Abhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. But she had not properly sat on them to keep them warm and incubated. That chicken might wish: ‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’ But they can’t break out and hatch safely. Why is that? Because that chicken with eight or ten or twelve eggs has not properly sat on them to keep them warm and incubated.
In the same way, when a mendicant is not committed to development, they might wish: ‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is not freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they’re undeveloped.’ Undeveloped in what? Undeveloped in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
Ví như, này các Tỳ khưu, một con gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng. Nhưng những quả trứng ấy không được gà mái ấp đúng cách, không được sưởi ấm đúng cách, không được bao bọc đúng cách. Dầu cho con gà mái ấy có khởi lên mong muốn như vầy: ‘Ôi, mong sao các con gà con của ta, dùng móng chân hay mỏ, mổ vỡ vỏ trứng và chui ra an toàn!’, nhưng các con gà con ấy vẫn không thể nào dùng móng chân hay mỏ, mổ vỡ vỏ trứng và chui ra an toàn được. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì những quả trứng tám, mười, hay mười hai quả ấy không được gà mái ấp đúng cách, không được sưởi ấm đúng cách, không được bao bọc đúng cách. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu sống không chuyên tâm tu tập thiền định, dầu cho mong muốn như vầy có thể khởi lên: ‘Ôi, mong sao tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ!’, nhưng rồi tâm của vị ấy vẫn không được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Vì sao vậy? Phải nói rằng: ‘Vì không được tu tập.’ Vì không tu tập điều gì? Vì không tu tập Bốn Niệm Xứ... ... Thánh Đạo Tám Ngành.
Bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati. Taṁ kissa hetu? ‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ. Kissa bhāvitattā? Bhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, bhāvitattā catunnaṁ sammappadhānānaṁ, bhāvitattā catunnaṁ iddhipādānaṁ, bhāvitattā pañcannaṁ indriyānaṁ, bhāvitattā pañcannaṁ balānaṁ, bhāvitattā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, bhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
When a mendicant is committed to development, they might not wish: ‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they are developed.’ Developed in what? Developed in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
Này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu sống chuyên tâm tu tập thiền định, dầu cho mong muốn như vầy không khởi lên: ‘Ôi, mong sao tâm của ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ!’, nhưng rồi tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Vì sao vậy? Phải nói rằng: ‘Vì đã được tu tập.’ Vì đã tu tập điều gì? Vì đã tu tập Bốn Niệm Xứ, vì đã tu tập Bốn Chánh Cần, vì đã tu tập Bốn Như Ý Túc, vì đã tu tập Năm Căn, vì đã tu tập Năm Lực, vì đã tu tập Bảy Giác Chi, vì đã tu tập Thánh Đạo Tám Ngành.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā. Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni. Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti, atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ. Taṁ kissa hetu? Tathā hi pana, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā; tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti, atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati. Taṁ kissa hetu? ‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ. Kissa bhāvitattā? Bhāvitattā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… bhāvitattā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. And she properly sat on them to keep them warm and incubated. That chicken might not wish: ‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’ But still they can break out and hatch safely. Why is that? Because that chicken with eight or ten or twelve eggs properly sat on them to keep them warm and incubated.
In the same way, when a mendicant is committed to development, they might not wish: ‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’ Even so, their mind is freed from defilements by not grasping. Why is that? You should say: ‘It’s because they are developed.’ Developed in what? Developed in the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
“Này các Tỳ khưu, ví như một con gà mái có tám, mười, hay mười hai quả trứng. Những quả trứng ấy được con gà mái ấp đúng cách, sưởi ấm đúng cách, bao bọc đúng cách. Dù cho con gà mái ấy không khởi lên mong muốn rằng: ‘Mong sao các con gà con của ta, dùng móng chân hoặc mỏ, mổ vỡ vỏ trứng và chui ra an toàn!’, thì các con gà con ấy vẫn có khả năng, dùng móng chân hoặc mỏ, mổ vỡ vỏ trứng và chui ra an toàn. Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, là vì những quả trứng ấy, tám, mười, hay mười hai quả, đã được con gà mái ấp đúng cách, sưởi ấm đúng cách, bao bọc đúng cách. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu chuyên tâm tu tập thiền định, dù cho vị ấy không khởi lên mong muốn rằng: ‘Mong sao tâm của ta, không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc!’, thì tâm của vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Vì sao vậy? Phải nói rằng: ‘Vì đã được tu tập’. Tu tập cái gì? Vì đã tu tập bốn niệm xứ… (vân vân)… vì đã tu tập Thánh đạo Tám ngành.”
Seyyathāpi, bhikkhave, palagaṇḍassa vā palagaṇḍantevāsissa vā vāsijaṭe dissanteva aṅgulipadāni dissati aṅguṭṭhapadaṁ. No ca khvassa evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakaṁ vata me ajja vāsijaṭassa khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti. Atha khvassa khīṇe khīṇantveva ñāṇaṁ hoti.
Evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakaṁ vata me ajja āsavānaṁ khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti, atha khvassa khīṇe khīṇantveva ñāṇaṁ hoti. Seyyathāpi, bhikkhave, sāmuddikāya nāvāya vettabandhanabaddhāya vassamāsāni udake pariyādāya hemantikena thalaṁ ukkhittāya vātātapaparetāni vettabandhanāni. Tāni pāvusakena meghena abhippavuṭṭhāni appakasireneva paṭippassambhanti pūtikāni bhavanti; evameva kho, bhikkhave, bhāvanānuyogaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato appakasireneva saṁyojanāni paṭippassambhanti pūtikāni bhavantī”ti.
Navamaṁ.
Suppose a mason or their apprentice sees the marks of his fingers and thumb on the handle of his adze. They don’t know how much of the handle was worn away today, how much yesterday, and how much previously. They just know what has been worn away.
In the same way, when a mendicant is committed to development, they don’t know how much of the defilements were worn away today, how much yesterday, and how much previously. They just know what has been worn away. Suppose there was a sea-faring ship bound together with ropes. For six months they deteriorated in the water. Then in the cold season it was hauled up on dry land, where the ropes were weathered by wind and sun. When the monsoon clouds soaked it with rain, the ropes would readily collapse and rot away. In the same way, when a mendicant is committed to development their fetters readily collapse and rot away.”
“Này các Tỳ khưu, ví như cán rìu của một người thợ mộc hay thợ học việc của ông ta, có thể thấy được dấu các ngón tay và dấu ngón tay cái. Nhưng ông ta không có tri kiến rằng: ‘Hôm nay cán rìu của ta đã mòn đi chừng này, hôm qua chừng này, hôm kia chừng này’. Tuy nhiên, khi nó đã mòn, ông ta biết rằng nó đã mòn. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu chuyên tâm tu tập thiền định, dù cho vị ấy không có tri kiến rằng: ‘Hôm nay các lậu hoặc của ta đã đoạn tận chừng này, hôm qua chừng này, hôm kia chừng này’, thì khi chúng đã đoạn tận, vị ấy biết rằng chúng đã đoạn tận. Này các Tỳ khưu, ví như một chiếc thuyền đi biển, được buộc bằng dây mây, sau nhiều tháng ở dưới nước, vào mùa đông được kéo lên bờ. Các dây mây ấy bị gió và nắng làm cho hư hại. Khi bị trận mưa rào của mùa mưa làm cho ướt đẫm, chúng liền dễ dàng chùng xuống và mục nát. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với vị Tỳ khưu chuyên tâm tu tập thiền định, các kiết sử liền dễ dàng chùng xuống và mục nát.”