- Saṁyutta Nikāya 22.102
- 10. Pupphavagga
Bản dịch
SN 22.102 — Kinh Vô Thường Tưởng
Aniccasaññāsutta
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 4 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm ruộng, vào mùa thu, dùng một cái cày lớn cắt đứt tất cả rễ mọc trong khi cày. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cắt cỏ cắt đứt cây cỏ, nắm lấy đầu ngọn đập lên, đập xuống, đập tả, đập hữu, rồi quăng một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận … tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 6 Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một chùm xoài bị cắt đứt từ cành, thời các trái xoài cùng dính vào cành đều bị đứt theo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận … tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có nóc nhọn, phàm có rui kèo nào, tất cả đều đi đến nóc nhọn, hướng đến nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, và nóc nhọn là tối thượng hơn chúng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng … tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 8 Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những rễ hương gì, hương anusàri đen là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo … tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những lõi hương gì, hương chiên-đàn đỏ là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo … tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 10 Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những hoa hương gì, hương vassika là tối thượng hơn những hương ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo.. tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 11 Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào, tất cả những vua ấy đều tùy thuộc vua Chuyển luân vương. Vua Chuyển luân vương được gọi là vua tối thượng đối với họ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo … tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 12 Ví như, này các Tỷ-kheo, ánh sáng các loại sao gì, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng được xem là tối thượng trong các ánh sáng ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo … tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 13 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mở rộng và gột sạch mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời, đuổi sạch tất cả u ám khỏi hư không, bừng sáng, chói sáng và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do tu tập, làm cho sung mãn vô thường tưởng, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận, tất cả hữu tham được đoạn tận, tất cả vô minh được đoạn tận, tất cả ngã mạn được tận trừ.
Vi-n 14 Tu tập vô thường tưởng như thế nào, này các Tỷ-kheo, làm cho sung mãn như thế nào mà tất cả dục tham được đoạn tận … tất cả ngã mạn được tận trừ?
Vi-n 15 Ðây là sắc; đây là sắc tập khởi; đây là sắc đoạn diệt; đây là thọ … đây là tưởng … đây là các hành … đây là thức; đây là thức tập khởi; đây là thức đoạn diệt.
Vi-n 16 Vô thường tưởng được tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, được làm cho sung mãn như vậy, tất cả dục tham được đoạn tận, tất cả sắc tham được đoạn tận; tất cả hữu tham được đoạn tận; tất cả vô minh được đoạn tận; tất cả ngã mạn được tận trừ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 22.102
- 10. Flowers
The Perception of Impermanence
10. Kinh Vô Thường Tưởng
Sāvatthinidānaṁ.
“Aniccasaññā, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā sabbaṁ kāmarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ rūparāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ bhavarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ avijjaṁ pariyādiyati, sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when the perception of impermanence is developed and cultivated it eliminates all desire for sensual pleasures, for rebirth in the realm of luminous form, and for rebirth in a future life. It eliminates all ignorance and eradicates all conceit ‘I am’.
102. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, tưởng vô thường, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đoạn tận tất cả dục ái, đoạn tận tất cả sắc ái, đoạn tận tất cả hữu ái, đoạn tận tất cả vô minh, và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye kassako mahānaṅgalena kasanto sabbāni mūlasantānakāni sampadālento kasati; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā bhāvitā bahulīkatā sabbaṁ kāmarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ rūparāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ bhavarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ avijjaṁ pariyādiyati, sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
In the autumn, a farmer ploughing with a large plough shears through all the root networks. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như vào mùa thu, một người nông dân cày bằng một chiếc cày lớn, trong khi cày đã cắt đứt tất cả các rễ cây. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đoạn tận tất cả dục ái, đoạn tận tất cả sắc ái, đoạn tận tất cả hữu ái, đoạn tận tất cả vô minh, và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, pabbajalāyako pabbajaṁ lāyitvā agge gahetvā odhunāti niddhunāti nicchoṭeti; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā bhāvitā bahulīkatā sabbaṁ kāmarāgaṁ pariyādiyati …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
A reed-cutter, having cut the reeds, grabs them at the top and shakes them down, shakes them about, and flails them about. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như một người cắt cỏ bấc, sau khi cắt cỏ, nắm lấy ngọn rồi giũ, lắc, và rũ sạch. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đoạn tận tất cả dục ái… (vân vân)… và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, ambapiṇḍiyā vaṇṭacchinnāya yāni tattha ambāni vaṇṭapaṭibandhāni sabbāni tāni tadanvayāni bhavanti; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā bhāvitā …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
When the stalk of a bunch of mangoes is cut, all the mangoes attached to the stalk will follow along. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như khi một chùm xoài bị cắt cuống, tất cả những quả xoài dính liền với cuống đều đi theo cuống ấy. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường, khi được tu tập… (vân vân)… và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgārassa yā kāci gopānasiyo sabbā tā kūṭaṅgamā kūṭaninnā kūṭasamosaraṇā, kūṭaṁ tāsaṁ aggamakkhāyati; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā bhāvitā …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci mūlagandhā kāḷānusārigandho tesaṁ aggamakkhāyati; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
The rafters of a bungalow all lean to the peak, slope to the peak, and meet at the peak, so the peak is said to be the topmost of them all. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
Of all kinds of fragrant root, spikenard is said to be the best. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như tất cả các kèo của một ngôi nhà có nóc nhọn đều hướng về nóc, xuôi về nóc, hội tụ tại nóc, và nóc được gọi là cao nhất trong số đó. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường, khi được tu tập… (vân vân)… và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci sāragandhā, lohitacandanaṁ tesaṁ aggamakkhāyati; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
Of all kinds of fragrant heartwood, red sandalwood is said to be the best. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như trong tất cả các loại hương lõi cây, hương gỗ đàn hương đỏ được gọi là cao nhất. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường… (vân vân)… và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci pupphagandhā, vassikaṁ tesaṁ aggamakkhāyati; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
Of all kinds of fragrant flower, jasmine is said to be the best. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như trong tất cả các loại hương hoa, hương hoa lài được gọi là cao nhất. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường… (vân vân)… và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci kuṭṭarājāno, sabbete rañño cakkavattissa anuyantā bhavanti, rājā tesaṁ cakkavatti aggamakkhāyati; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
All lesser kings are vassals of a wheel-turning monarch, so the wheel-turning monarch is said to be the foremost of them all. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như trong tất cả các loại hương rễ cây, hương rễ cây trầm hương đen được gọi là cao nhất. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường… (vân vân)… và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, yā kāci tārakarūpānaṁ pabhā, sabbā tā candimappabhāya kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ, candappabhā tāsaṁ aggamakkhāyati; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
The radiance of all the stars is not worth a sixteenth part of the moon’s radiance, so the moon’s radiance is said to be the best of them all. In the same way, when the perception of impermanence is developed … it eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như ánh sáng của tất cả các vì sao không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng, và ánh trăng được gọi là cao nhất trong số đó. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường… (vân vân)… và nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nataṁ abbhussakkamāno, sabbaṁ ākāsagataṁ tamagataṁ abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocate ca; evameva kho, bhikkhave, aniccasaññā bhāvitā bahulīkatā sabbaṁ kāmarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ rūparāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ bhavarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ avijjaṁ pariyādiyati, sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati.
In the autumn, the heavens are sunny and cloudless. And as the sun is rising to the firmament, having dispelled all the darkness of space, it shines and glows and radiates. In the same way, when the perception of impermanence is developed and cultivated it eliminates all desire for sensual pleasures, for rebirth in the realm of luminous form, and for rebirth in a future life. It eliminates all ignorance and eradicates all conceit ‘I am’.
“Này các Tỳ khưu, ví như vào mùa thu, khi bầu trời quang đãng không mây, mặt trời mọc lên không trung, xua tan mọi bóng tối trên hư không, chiếu sáng, tỏa nhiệt, và rực rỡ. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, tưởng vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đoạn tận tất cả dục ái, đoạn tận tất cả sắc ái, đoạn tận tất cả hữu ái, đoạn tận tất cả vô minh, nhổ sạch tất cả ngã mạn.”
Kathaṁ bhāvitā ca, bhikkhave, aniccasaññā kathaṁ bahulīkatā sabbaṁ kāmarāgaṁ pariyādiyati …pe… sabbaṁ asmimānaṁ samūhanati? ‘Iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo; iti vedanā … iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti—
evaṁ bhāvitā kho, bhikkhave, aniccasaññā evaṁ bahulīkatā sabbaṁ kāmarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ rūparāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ bhavarāgaṁ pariyādiyati, sabbaṁ avijjaṁ pariyādiyati, sabbaṁ asmimānaṁ samūhanatī”ti.
Dasamaṁ.
And how is the perception of impermanence developed and cultivated so that … it eradicates all conceit ‘I am’? ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’
That’s how the perception of impermanence is developed and cultivated so that it eliminates all desire for sensual pleasures, for rebirth in the realm of luminous form, and for rebirth in a future life. That’s how it eliminates all ignorance and eradicates all conceit ‘I am’.”
“Và này các Tỳ khưu, tưởng vô thường được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào để đoạn tận tất cả dục ái... cho đến... nhổ sạch tất cả ngã mạn? ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Này các Tỳ khưu, tưởng vô thường được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy sẽ đoạn tận tất cả dục ái, đoạn tận tất cả sắc ái, đoạn tận tất cả hữu ái, đoạn tận tất cả vô minh, nhổ sạch tất cả ngã mạn.” (Kinh) thứ mười.
Pupphavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Hoa, thứ mười.
Nadī pupphañca pheṇañca, gomayañca nakhāsikhaṁ; Suddhikaṁ dve ca gaddulā, vāsījaṭaṁ aniccatāti.
Sông, hoa, và bọt nước, phân bò, và đầu móng tay; Thanh tịnh, hai kinh Gaddula, cái nêm và vô thường.
Majjhimapaṇṇāsako samatto.
Năm mươi kinh giữa đã kết thúc.
Tassa majjhimapaṇṇāsakassa vagguddānaṁ
Phần tóm lược các phẩm của năm mươi kinh giữa:
Upayo arahanto ca, khajjanī therasavhayaṁ; Pupphavaggena paṇṇāsa, dutiyo tena vuccatīti.
Phương tiện và các vị A-la-hán, Bị ăn, phẩm được gọi là Trưởng Lão; Cùng với Phẩm Hoa, do đó được gọi là năm mươi kinh thứ hai.