- Saṁyutta Nikāya 2.6
- 1. Paṭhamavagga
Kāmadasutta
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ ṭhito kho kāmado devaputto bhagavantaṁ etadavoca: “dukkaraṁ, bhagavā, sudukkaraṁ, bhagavā”ti.
Bản dịch
Kāmadasutta
Vi-n 1 Ðứng một bên, Thiên tử Kàmada bạch Thế Tôn:
Vi-n 2 Khó làm, bạch Thế Tôn,
Thế Tôn, thật khó làm.
Vi-n 3
Tuy vậy, Kàmada,
Họ làm việc khó làm,
Chính các vị hữu học,
Kiên trì tu giới định,
Ðã chọn đời xuất gia,
Biết đủ, đem an lạc.Biết đủ, bạch Thế Tôn,
Vi-n 4
Biết đủ, thật khó được.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ được điều khó được.
Những vị lòng ưa thích,
Tâm tư được điều tịnh,
Cả ngày và cả đêm,
Ý an lạc tu tập.Khó tịnh, bạch Thế Tôn,
Vi-n 5
Tâm ấy, thật khó tịnh.
Tuy vậy, Kàmada,
Họ tịnh tâm khó tịnh.
Những vị lòng ưa thích,
Các căn được tịch tịnh,
Cắt đứt lưỡi tử thần,
Bậc Hiền Thánh đi tới.Khó đi, bạch Thế Tôn,
Con đường thật lồi lõm.
Tuy vậy, Kàmada,
Bậc Hiền Thánh vẫn đi.
Trên con đường khó đi,
Và có nhiều lồi lõm,
Kẻ phàm phu vấp ngã,
Trên đường mất thăng bằng.
Con đường đối bậc Thánh,
Là con đường thăng bằng,
Bậc Thánh bước thăng bằng,
Trên đường mất thăng bằng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ ṭhito kho kāmado devaputto bhagavantaṁ etadavoca: “dukkaraṁ, bhagavā, sudukkaraṁ, bhagavā”ti.
At Sāvatthī.
Standing to one side, the godling Kāmada said to the Buddha, “It’s too hard, Blessed One! It’s just too hard!”
87. Nhân duyên ở Sāvatthī. Đứng một bên, thiên tử Kāmada bạch với Thế Tôn lời này: “Bạch Thế Tôn, thật khó làm! Bạch Thế Tôn, thật rất khó làm!”
“Dukkaraṁ vāpi karonti, (kāmadāti bhagavā) Sekhā sīlasamāhitā; Ṭhitattā anagāriyupetassa, Tuṭṭhi hoti sukhāvahā”ti.
“They do it even though it’s hard,” said the Buddha to Kāmada, “the stable trainees with ethics, and immersion. For one who has entered the homeless life, contentment brings happiness.”
(Thế Tôn:) “Này Kāmada, dù khó làm, các bậc hữu học vẫn làm, những vị có giới và định, tâm tánh kiên định. Đối với người đã xuất gia, sự tri túc mang lại an lạc.”
“Dullabhā, bhagavā, yadidaṁ tuṭṭhī”ti.
“Such contentment, Blessed One, is hard to find.”
“Bạch Thế Tôn, sự tri túc ấy thật khó có được!”
“Dullabhaṁ vāpi labhanti, (kāmadāti bhagavā) Cittavūpasame ratā; Yesaṁ divā ca ratto ca, Bhāvanāya rato mano”ti.
“They find it even though it’s hard,” said the Buddha to Kāmada, “those who love to settle the mind; whose minds love to meditate day and night.”
(Thế Tôn:) “Này Kāmada, dù khó có được, họ vẫn đạt được, những ai hoan hỷ trong sự an tịnh của tâm; những ai mà tâm, cả ngày lẫn đêm, đều hoan hỷ trong sự tu tập.”
“Dussamādahaṁ, bhagavā, yadidaṁ cittan”ti.
“But it’s hard, Blessed One, to immerse this mind in samādhi.”
“Bạch Thế Tôn, tâm này thật khó định!”
“Dussamādahaṁ vāpi samādahanti, (kāmadāti bhagavā) Indriyūpasame ratā; Te chetvā maccuno jālaṁ, Ariyā gacchanti kāmadā”ti.
“They become immersed in samādhi <j>even though it’s hard,” said the Buddha to Kāmada, “those who love calming the faculties. Having cut through the net of Death, the noble ones, Kāmada, go on their way.”
(Thế Tôn:) “Này Kāmada, dù khó định, họ vẫn định được, những bậc Thánh hoan hỷ trong sự an tịnh các căn. Này Kāmada, các bậc Thánh ấy, sau khi cắt đứt lưới của tử thần, liền ra đi.”
“Duggamo, bhagavā, visamo maggo”ti.
“But this path, Blessed One, is rough and hard to travel.”
“Bạch Thế Tôn, con đường thật khó đi, thật không bằng phẳng!”
“Duggame visame vāpi, Ariyā gacchanti kāmada; Anariyā visame magge, Papatanti avaṁsirā; Ariyānaṁ samo maggo, Ariyā hi visame samā”ti.
“Though it’s rough, hard to travel, the noble ones, Kāmada, go on their way. The ignoble fall headfirst on a rough path. But the path of the noble ones is smooth, for the noble ones are smooth amid the rough.”
“Này Kāmada, dù khó đi và không bằng phẳng, các bậc Thánh vẫn đi. Kẻ phàm phu trên con đường không bằng phẳng, bị té nhào chúi đầu. Con đường của các bậc Thánh thì bằng phẳng, vì các bậc Thánh thì bình đẳng giữa những điều không bằng phẳng.”