- Saṁyutta Nikāya 2.7
- 1. Paṭhamavagga
Bản dịch
SN 2.7 — Kinh Pañcālacaṇḍa
Pañcālacaṇḍasutta
Vi-n 1 Ðứng một bên, Thiên tử Pancàlacanda nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:
Dầu giữa những chướng ngại,
Bậc Ðại trí Chánh giác,
Vẫn tìm được lối thoát,
Vượt qua mọi chướng ngại.
Bậc trí hiểu Thiền định,
Biết từ bỏ, tối thắng,
Bậc Mâu-ni, ẩn sĩ
Vi-n 2 Thế Tôn lên tiếng:
Pancàlacanda,
Dầu giữa những chướng ngại,
Họ tìm được lối thoát,
Họ tìm được Chánh pháp
Ðưa đến quả Niết-bàn.
Những vị đạt chánh niệm,
Kiên trì không dao động,
Họ là bậc chơn chánh,
Tâm điều phục, định tĩnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 2.7
- Chapter One
With Pañcālacaṇḍa
7. Kinh Pañcālacaṇḍa
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ ṭhito kho pañcālacaṇḍo devaputto bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
At Sāvatthī.
Standing to one side, the godling Pañcālacaṇḍa spoke this verse in the Buddha’s presence:
88. Nhân duyên ở Sāvatthī. Đứng một bên, thiên tử Pañcālacaṇḍa ở trước mặt Thế Tôn, nói lên kệ ngôn này:
“Sambādhe vata okāsaṁ, Avindi bhūrimedhaso; Yo jhānamabujjhi buddho, Paṭilīnanisabho munī”ti.
“The opening amid confinement was discovered by the Buddha of vast intelligence, who awakened to absorption, the sage, the solitary boss bull.”
“Trong chốn chật hẹp, bậc trí tuệ rộng lớn đã tìm thấy cơ hội. Vị Phật, bậc ẩn sĩ, bậc trâu đực giữa những người ẩn dật, bậc Mâu-ni đã giác ngộ thiền.”
“Sambādhe vāpi vindanti, (pañcālacaṇḍāti bhagavā) Dhammaṁ nibbānapattiyā; Ye satiṁ paccalatthaṁsu, Sammā te susamāhitā”ti.
“Even amid confinement they understand,” said the Buddha to Pañcālacaṇḍa, “the principle for attaining extinguishment. Those who have acquired mindfulness are perfectly serene in samādhi.”
(Thế Tôn:) “Này Pañcālacaṇḍa, dù ở trong chốn chật hẹp, họ vẫn tìm thấy Pháp để chứng đạt Niết-bàn, những ai đã đạt được chánh niệm. Họ được khéo định tĩnh một cách chân chánh.”