- Saṁyutta Nikāya 2.14
- 2. Anāthapiṇḍikavagga
Bản dịch
SN 2.14 — Kinh Nandana
Nandanasutta
Vi-n 1 Ðứng một bên, Thiên tử Nandana nói bài kệ với Thế Tôn:
Con hỏi Gotama,
Vi-n 2 (Thế Tôn):
Bậc Ðại Giác toàn trí,
Con hỏi đấng Thế Tôn,
Với tri kiến vạn năng.
Người nào gọi trì giới?
Người nào gọi trí tuệ?
Người nào vượt sầu khổ?
Người nào chư Thiên lạy?Ai hộ trì giới luật,
Trí tuệ, tâm tu trì,
Chú tâm, vui Thiền định,
Tâm tư trú chánh niệm,
Tất cả mọi sầu khổ,
Ðược trừ diệt, đoạn tận,
Các lậu hoặc tận trừ,
Sống với thân tối hậu,
Vị ấy gọi trì giới,
Vị ấy gọi trí tuệ,
Vị ấy vượt sầu khổ,
Vị ấy chư Thiên lạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 2.14
- 2. With Anāthapiṇḍika
With Nandana
4. Kinh Nandana
Ekamantaṁ ṭhito kho nandano devaputto bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Standing to one side, the godling Nandana addressed the Buddha in verse:
95. Đứng một bên, thiên tử Nandana đã thưa với Đức Thế Tôn bằng kệ rằng:
“Pucchāmi taṁ gotama bhūripañña, Anāvaṭaṁ bhagavato ñāṇadassanaṁ; Kathaṁvidhaṁ sīlavantaṁ vadanti, Kathaṁvidhaṁ paññavantaṁ vadanti; Kathaṁvidho dukkhamaticca iriyati, Kathaṁvidhaṁ devatā pūjayantī”ti.
“I ask you, Gotama, whose wisdom is vast, the Blessed One <j>of unhindered knowledge and vision. What sort do they call ethical? What sort do they call wise? What sort lives on after transcending suffering? What sort is worshiped by the deities?”
“Con xin hỏi Ngài, Gotama, bậc có trí tuệ rộng lớn, tri kiến của Đức Thế Tôn không bị che lấp. Người như thế nào được gọi là người có giới? Người như thế nào được gọi là người có trí tuệ? Người như thế nào sống vượt qua đau khổ? Người như thế nào được chư thiên cúng dường?”
“Yo sīlavā paññavā bhāvitatto, Samāhito jhānarato satīmā; Sabbassa sokā vigatā pahīnā, Khīṇāsavo antimadehadhārī.
“Someone who is ethical, wise, evolved, becomes serene, loving absorption, mindful, who’s gotten rid of and given up all sorrows, with defilements ended, they bear their final body.
“Người nào có giới, có trí tuệ, đã tu tập tự thân, có định tĩnh, ưa thích thiền định, có chánh niệm; mọi sầu muộn đã được xua tan, từ bỏ; đã đoạn tận các lậu hoặc, và mang thân cuối cùng.
Tathāvidhaṁ sīlavantaṁ vadanti, Tathāvidhaṁ paññavantaṁ vadanti; Tathāvidho dukkhamaticca iriyati, Tathāvidhaṁ devatā pūjayantī”ti.
That sort they call ethical. That sort they call wise. That sort lives on after transcending suffering. That sort is worshiped by the deities.”
“Người như thế được gọi là người có giới, người như thế được gọi là người có trí tuệ; người như thế sống vượt qua đau khổ, người như thế được chư thiên cúng dường.”