- Saṁyutta Nikāya 2.13
- 2. Anāthapiṇḍikavagga
Dīghalaṭṭhisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dīghalaṭṭhisutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Thiên tử Diighalatthi, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Diighalatthi nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Với tâm tư giải thoát,
Vị Tỷ-kheo tu Thiền,
Và với lòng ước vọng,
Ðạt được tâm sở nguyện,
Sau khi biết cuộc đời,
Sanh khởi rồi đoạn diệt,
Tâm thuần không chấp trước,
Hưởng lợi quả như chơn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Dīghalaṭṭhi
Atha kho dīghalaṭṭhi devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ veḷuvanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho dīghalaṭṭhi devaputto bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then, late at night, the glorious godling Dīghalaṭṭhi, lighting up the entire Bamboo Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and spoke this verse in the Buddha’s presence:
94. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, thiên tử Dīghalaṭṭhi, vào lúc đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể Veḷuvana rực sáng, đi đến nơi Đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, thiên tử Dīghalaṭṭhi đã nói lên kệ này trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn:
“Bhikkhu siyā jhāyī vimuttacitto, Ākaṅkhe ce hadayassānupattiṁ; Lokassa ñatvā udayabbayañca, Sucetaso anissito tadānisaṁso”ti.
“If a mendicant is a meditator, freed in mind, and if they desire the heart’s fulfillment— having known the arising and passing of the world, good-hearted, independent, that is their reward.”
“Nếu vị tỳ khưu mong đạt đến sự chứng ngộ của tâm, vị ấy nên là người thiền định, có tâm giải thoát; sau khi biết được sự sanh diệt của thế gian, có tâm thanh tịnh, không nương tựa, vị ấy sẽ có được lợi ích đó.”