- Saṁyutta Nikāya 2.1
- 1. Paṭhamavagga
Paṭhamakassapasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamakassapasutta
S.i,46Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Kassapa (Ca-diếp), sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Kassapa bạch Thế Tôn:
—Thế Tôn đề cao Tỷ-kheo và sự giáo giới vị Tỷ kheo cho chúng con.
Vi-n 2 —Vậy này Kassapa, hãy nói lên ở đây về vấn đề ấy.
Vi-n 3 (Kassapa):Hãy học điều khéo nói,
Trong hạnh nghiệp Sa-môn,
Vắng lặng, ngồi một mình,
Với tâm tư an tịnh.
Vi-n 4 Thiên tử Kassapa nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên tử Kassapa, sau khi được biết: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất từ chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Kassapa Thứ Nhất
Atha kho kassapo devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho kassapo devaputto bhagavantaṁ etadavoca: “bhikkhuṁ bhagavā pakāsesi, no ca bhikkhuno anusāsan”ti.
“Tena hi, kassapa, taññevettha paṭibhātū”ti.
Then, late at night, the glorious godling Kassapa, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him, “The Buddha has revealed the mendicant, but not his instructions to a mendicant.”
“Well then, Kassapa, clarify this matter yourself.”
82. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, thiên tử Kassapa, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể Jetavana rực sáng, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, thiên tử Kassapa bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Ngài chỉ nói rõ về Tỷ-kheo, chứ không nói về lời giáo huấn cho Tỷ-kheo.” (Thế Tôn đáp): “Vậy thì, này Kassapa, hãy để điều đó được sáng tỏ cho chính ngươi ở đây.”
“Subhāsitassa sikkhetha, samaṇūpāsanassa ca; Ekāsanassa ca raho, cittavūpasamassa cā”ti.
“You should all train <j>to learn well-spoken words, to attend closely to ascetics, to sit alone in hidden places, and to settle the mind.”
“Nên học tập lời khéo nói, và sự thân cận các Sa-môn; nên ở một mình nơi vắng vẻ, và sự an tịnh của tâm.”
Idamavoca kassapo devaputto; samanuñño satthā ahosi. Atha kho kassapo devaputto “samanuñño me satthā”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
That is what the godling Kassapa said, and the Teacher concurred. Then Kassapa, knowing that the Teacher concurred, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Thiên tử Kassapa đã nói lời này; bậc Đạo Sư đã hoan hỷ. Bấy giờ, thiên tử Kassapa, (nghĩ rằng): “Bậc Đạo Sư đã hoan hỷ với ta,” liền đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ đó.