- Saṁyutta Nikāya 17.26
- 3. Tatiyavagga
Bản dịch
SN 17.26 — Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ hai
Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm và xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với với Ta, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại cũng không tự mình với thắng trì chứng ngộ, chứng đạt và an túc mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 3 Và những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật biết sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt … của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với ta được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy ngay trong đời sống hiện tại, có thể tự mình giác ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 17.26
- Chapter Three
Ascetics and Brahmins (2nd)
6. Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ hai
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā lābhasakkārasilokassa samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānanti …pe…
pajānanti …pe… sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At Sāvatthī.
“There are ascetics and brahmins who don’t truly understand the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape when it comes to possessions, honor, and popularity …
There are ascetics and brahmins who do truly understand …”
175. Tại Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát khỏi lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng... (như trên)... những ai biết... (như trên)... họ sống, trong hiện tại, sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí. (Kinh) thứ sáu.