- Saṁyutta Nikāya 17.25
- 3. Tatiyavagga
Bản dịch
SN 17.25 — Kinh Sa-môn và Bà-la-môn
Samaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, như Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, không có thể tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật biết vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của lợi đắc, cung kính, danh vọng; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy đối với Ta, đuợc chấp nhận là vị Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, có thể tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 17.25
- Chapter Three
Ascetics and Brahmins
5. Kinh Sa-môn và Bà-la-môn
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā lābhasakkārasilokassa assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānanti, na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmantā sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā lābhasakkārasilokassa assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānanti, te ca kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Pañcamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t truly understand the gratification, drawback, and escape when it comes to possessions, honor, and popularity. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
There are ascetics and brahmins who do truly understand the gratification, drawback, and escape when it comes to possessions, honor, and popularity. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
174. Tại Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết như thật về vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát khỏi lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng, thì này các Tỳ khưu, đối với Ta, họ không được xem là Sa-môn trong số các Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong số các Bà-la-môn. Và các vị tôn giả ấy không sống, trong hiện tại, sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, mục đích của đời sống Sa-môn hay mục đích của đời sống Bà-la-môn. Nhưng này các Tỳ khưu, bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết như thật về vị ngọt, sự nguy hại, và lối thoát khỏi lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng, thì này các Tỳ khưu, đối với Ta, họ được xem là Sa-môn trong số các Sa-môn, và là Bà-la-môn trong số các Bà-la-môn. Và các vị tôn giả ấy sống, trong hiện tại, sau khi đã tự mình chứng ngộ với thắng trí, mục đích của đời sống Sa-môn và mục đích của đời sống Bà-la-môn. (Kinh) thứ năm.