- Saṁyutta Nikāya 17.24
- 3. Tatiyavagga
Bản dịch
SN 17.24 — Kinh Con Gái Duy Nhất
Ekadhītusutta
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng …
Vi-n 3 Một tín nữ, này các Tỷ-kheo, chơn chánh khuyên dạy đứa con gái độc nhất, đáng yêu, đáng mến, sẽ khuyên dạy như sau: “Này Con thân yêu, hãy giống như nữ cư sĩ Khujjutarà và Velu-kandakiyà, mẹ của Nanda!”
Vi-n 4 Các vị ấy, này các Tỷ-kheo, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, tức là nữ cư sĩ Khujjutarà và Velukandakiyà.
Vi-n 5 “Này Con thân yêu, nếu Con xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; này Con thân yêu, hãy giống như Tỷ-kheo-ni Khemā và Uppàlavanna!”
Vi-n 6 Các vị ấy, này các Tỷ-kheo, là cân lường, là mẫu mực cho các đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppàlavanna.
Vi-n 7 “Này Con thân yêu, chớ để cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến người, kẻ hữu học với tâm đầy nhiệt tình!”
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, nếu một Tỷ-kheo-ni hữu học, với tâm đầy nhiệt tình, bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến, như vậy là chướng ngại cho vị ấy.
Vi-n 9 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng …
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 17.24
- Chapter Three
An Only Daughter
4. Kinh Con Gái Duy Nhất
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko …pe…
saddhā bhikkhave upāsikā ekaṁ dhītaraṁ piyaṁ manāpaṁ evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya: ‘tādisā, ayye, bhavāhi yādisā khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā’ti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ, yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā.
Sace kho tvaṁ, ayye, agārasmā anagāriyaṁ pabbajasi; tādisā, ayye, bhavāhi yādisā khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cāti.
Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ, yadidaṁ khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā ca.
Mā ca kho tvaṁ, ayye, sekhaṁ appattamānasaṁ lābhasakkārasiloko anupāpuṇātūti. Tañce, bhikkhave, bhikkhuniṁ sekhaṁ appattamānasaṁ lābhasakkārasiloko anupāpuṇāti, so tassā hoti antarāyāya.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko …pe… evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Catutthaṁ.
At Sāvatthī.
“Possessions, honor, and popularity are grim …
A faithful laywoman with a dear and beloved only daughter would rightly appeal to her, ‘My darling, please be like the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.’
These are a standard and a measure for my female lay disciples, that is, the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.
‘But my darling, if you go forth from the lay life to homelessness, please be like the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.’
These are a standard and a measure for my nun disciples, that is, the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.
‘And my darling, may you not come into possessions, honor, and popularity while you’re still a trainee and haven’t achieved your heart’s desire.’ If a trainee who hasn’t achieved their heart’s desire comes into possessions, honor, and popularity it’s an obstacle for them.
So grim are possessions, honor, and popularity. …”
173. Tại Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng là tàn khốc... Này các Tỳ khưu, một nữ cận sự có đức tin, khi muốn cầu nguyện một cách đúng đắn cho người con gái duy nhất, thân yêu, khả ái của mình, nên cầu nguyện rằng: ‘Này con yêu, con hãy trở thành người giống như nữ cận sự Khujjuttarā và Nandamātā ở Veḷukaṇḍakī.’ Này các Tỳ khưu, đây là cán cân, đây là thước đo cho các nữ đệ tử tại gia của Ta, tức là nữ cận sự Khujjuttarā và Nandamātā ở Veḷukaṇḍakī. ‘Này con yêu, nếu con từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình, xuất gia; thì này con yêu, con hãy trở thành người giống như Tỳ khưu ni Khemā và Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā.’ Này các Tỳ khưu, đây là cán cân, đây là thước đo cho các nữ đệ tử Tỳ khưu ni của Ta, tức là Tỳ khưu ni Khemā và Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā. ‘Và này con yêu, mong rằng lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng đừng đến với con khi con còn là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu.’ Này các Tỳ khưu, nếu lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng đến với vị Tỳ khưu ni còn là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, thì điều đó trở thành chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỳ khưu, lợi dưỡng, cung kính, và danh vọng là tàn khốc như vậy... Này các Tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy. (Kinh) thứ tư.