- Saṁyutta Nikāya 15.13
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 15.13 — Kinh Ba Mươi
Tiṁsamattasutta
Vi-n 1 … Trú ở Vương Xá, Trúc Lâm.
Vi-n 2 Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử, cùng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà này, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho họ như thế nào để ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”: “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 5 Thế Tôn nói như sau:
—Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Vi-n 6 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?
Vi-n 7 —Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
Vi-n 8 Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu Pháp Ta dạy như vậy!
Vi-n 9 Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các Ông bị thương tích khi các Ông là bò, sanh ra làm bò trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là trâu, sanh ra làm trâu trong thời gian dài …
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là cừu, sanh ra làm cừu trong thời gian dài …
Vi-n 13 … khi các Ông là dê, sanh ra làm dê …
Vi-n 14 … khi các Ông là nai, sanh ra làm nai …
Vi-n 15 … khi các Ông là gia cầm, sanh ra làm gia cầm …
Vi-n 16 … khi các Ông là heo, sanh ra làm heo …
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng, bị bắt trong thời gian dài …
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, ăn cướp đường, bị bắt trong thời gian dài …
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, tư thông vợ người, bị bắt trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn.
Vi-n 20 Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo … là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành …
Vi-n 21 Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Vi-n 22 Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 15.13
- Chapter Two
Thirty Mendicants
3. Kinh Ba Mươi
Rājagahe viharati veḷuvane. Atha kho tiṁsamattā pāveyyakā bhikkhū sabbe āraññikā sabbe piṇḍapātikā sabbe paṁsukūlikā sabbe tecīvarikā sabbe sasaṁyojanā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Atha kho bhagavato etadahosi: “ime kho tiṁsamattā pāveyyakā bhikkhū sabbe āraññikā sabbe piṇḍapātikā sabbe paṁsukūlikā sabbe tecīvarikā sabbe sasaṁyojanā. Yannūnāhaṁ imesaṁ tathā dhammaṁ deseyyaṁ yathā nesaṁ imasmiṁyeva āsane anupādāya āsavehi cittāni vimucceyyun”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Near Rājagaha, in the Bamboo Grove. Then thirty mendicants from Pāvā went to the Buddha. All of them lived in the wilderness, ate only almsfood, wore rag robes, and owned just three robes; yet they all still had fetters. They bowed to the Buddha and sat down to one side.
Then it occurred to the Buddha, “These thirty mendicants from Pāvā live in the wilderness, eat only almsfood, wear rag robes, and own just three robes; yet they all still have fetters. Why don’t I teach them the Dhamma in such a way that their minds are freed from defilements by not grasping while sitting in this very seat?”
Then the Buddha said to the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
136. Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong khu rừng Veḷuvana. Bấy giờ, có khoảng ba mươi vị tỳ khưu người Pāvā, tất cả đều là những vị sống trong rừng, tất cả đều là những vị đi khất thực, tất cả đều là những vị mặc y phấn tảo, tất cả đều là những vị chỉ dùng ba y, tất cả đều còn các kiết sử, đã đi đến nơi Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Bấy giờ, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: 'Khoảng ba mươi vị tỳ khưu người Pāvā này, tất cả đều là những vị sống trong rừng, tất cả đều là những vị đi khất thực, tất cả đều là những vị mặc y phấn tảo, tất cả đều là những vị chỉ dùng ba y, tất cả đều còn các kiết sử. Ta hãy thuyết pháp cho họ theo cách mà ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ sẽ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.' Rồi Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu.' – 'Bạch Thế Tôn,' các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, katamaṁ nu kho bahutaraṁ, yaṁ vā vo iminā dīghena addhunā sandhāvataṁ saṁsarataṁ sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ, yaṁ vā catūsu mahāsamuddesu udakan”ti?
“Yathā kho mayaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāma, etadeva, bhante, bahutaraṁ, yaṁ no iminā dīghena addhunā sandhāvataṁ saṁsarataṁ sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ, na tveva catūsu mahāsamuddesu udakan”ti.
“Mendicants, this transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.
What do you think? Which is more: the flow of blood you’ve shed when your head was chopped off while roaming and transmigrating for such a very long time, or the water in the four oceans?”
“As we understand the Buddha’s teaching, the flow of blood we’ve shed when our head was chopped off while roaming and transmigrating is more than the water in the four oceans.”
“Này các tỳ khưu, vòng luân hồi này không thể biết được khởi điểm. Điểm khởi đầu không thể nhận ra đối với chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái kiết sử trói buộc, đang trôi lăn, lưu chuyển. Này các tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Cái nào nhiều hơn: máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của các ông, những người đang trôi lăn, lưu chuyển trong suốt thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?” – “Bạch Thế Tôn, theo như chúng con hiểu được giáo pháp do Thế Tôn thuyết giảng, bạch Thế Tôn, chính điều này là nhiều hơn: máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của chúng con, những người đang trôi lăn, lưu chuyển trong suốt thời gian dài này; chứ không phải là nước trong bốn biển lớn.”
“Sādhu sādhu, bhikkhave, sādhu kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha. Etadeva, bhikkhave, bahutaraṁ, yaṁ vo iminā dīghena addhunā sandhāvataṁ saṁsarataṁ sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ, na tveva catūsu mahāsamuddesu udakaṁ. Dīgharattaṁ vo, bhikkhave, gunnaṁ sataṁ gobhūtānaṁ sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ, na tveva catūsu mahāsamuddesu udakaṁ. Dīgharattaṁ vo, bhikkhave, mahiṁsānaṁ sataṁ mahiṁsabhūtānaṁ sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ …pe… dīgharattaṁ vo, bhikkhave, urabbhānaṁ sataṁ urabbhabhūtānaṁ …pe… ajānaṁ sataṁ ajabhūtānaṁ … migānaṁ sataṁ migabhūtānaṁ … kukkuṭānaṁ sataṁ kukkuṭabhūtānaṁ … sūkarānaṁ sataṁ sūkarabhūtānaṁ … dīgharattaṁ vo, bhikkhave, corā gāmaghātāti gahetvā sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ. Dīgharattaṁ vo, bhikkhave, corā pāripanthikāti gahetvā sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ. Dīgharattaṁ vo, bhikkhave, corā pāradārikāti gahetvā sīsacchinnānaṁ lohitaṁ passannaṁ paggharitaṁ, na tveva catūsu mahāsamuddesu udakaṁ.
Taṁ kissa hetu? Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro …pe… alaṁ vimuccitun”ti.
“Good, good, mendicants! It’s good that you understand my teaching like this. The flow of blood you’ve shed when your head was chopped off while roaming and transmigrating is indeed more than the water in the four oceans. For a long time you’ve been cows, and the flow of blood you’ve shed when your head was chopped off as a cow is more than the water in the four oceans. For a long time you’ve been buffalo … sheep … goats … deer … chickens … pigs … For a long time you’ve been bandits, arrested for raiding villages, highway robbery, or adultery. And the flow of blood you’ve shed when your head was chopped off as a bandit is more than the water in the four oceans.
Why is that? This transmigration has no known beginning. … This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.”
“Lành thay, lành thay, này các tỳ khưu! Này các tỳ khưu, thật tốt khi các ông hiểu được giáo pháp do ta thuyết giảng như vậy. Này các tỳ khưu, chính điều này là nhiều hơn: máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của các ông, những người đang trôi lăn, lưu chuyển trong suốt thời gian dài này; chứ không phải là nước trong bốn biển lớn. Này các tỳ khưu, trong một thời gian dài, khi là những con bò, máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của các ông khi sanh làm bò, chứ không phải là nước trong bốn biển lớn. Này các tỳ khưu, trong một thời gian dài, khi là những con trâu, máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của các ông khi sanh làm trâu... ... trong một thời gian dài, khi là những con cừu, khi sanh làm cừu... ... khi là những con dê, khi sanh làm dê... khi là những con nai, khi sanh làm nai... khi là những con gà, khi sanh làm gà... khi là những con heo, khi sanh làm heo... Này các tỳ khưu, trong một thời gian dài, khi bị bắt vì là kẻ cướp phá làng mạc, máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của các ông. Này các tỳ khưu, trong một thời gian dài, khi bị bắt vì là kẻ cướp đường, máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của các ông. Này các tỳ khưu, trong một thời gian dài, khi bị bắt vì là kẻ ngoại tình, máu đã tuôn chảy, đã đổ ra do bị chặt đầu của các ông, chứ không phải là nước trong bốn biển lớn. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vòng luân hồi này không thể biết được khởi điểm... ... đã đủ để giải thoát.”
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne tiṁsamattānaṁ pāveyyakānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsūti.
Tatiyaṁ.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the minds of the thirty mendicants from Pāvā were freed from defilements by not grasping.
Thế Tôn đã nói điều này. Các vị tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Và trong khi bài pháp giải thích này đang được thuyết giảng, tâm của khoảng ba mươi vị tỳ khưu người Pāvā đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. (Kinh thứ) ba.