- Saṁyutta Nikāya 14.22
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 14.22 — Kinh Căn Bản Về Biếng Nhác
Kusītamūlakasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.
Kẻ biếng nhác cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biếng nhác. Kẻ thất niệm… với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ… với kẻ ác tuệ. Kẻ tinh cần… với kẻ tinh cần. Kẻ trì niệm… với kẻ trì niệm. Kẻ có trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có trí tuệ.
Vi-n 3-5 … thời quá khứ… thời vị lai… thời hiện tại.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 14.22
- Chapter Two
Beginning With the Lazy
12. Kinh Căn Bản Về Biếng Nhác
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dhātusova, bhikkhave, sattā saṁsandanti samenti. Kusītā kusītehi saddhiṁ saṁsandanti samenti; muṭṭhassatino muṭṭhassatīhi saddhiṁ saṁsandanti samenti; duppaññā duppaññehi saddhiṁ saṁsandanti samenti; āraddhavīriyā āraddhavīriyehi saddhiṁ saṁsandanti samenti; upaṭṭhitassatino upaṭṭhitassatīhi saddhiṁ saṁsandanti samenti; paññavanto paññavantehi saddhiṁ saṁsandanti samentī”ti …pe….
Dvādasamaṁ.
(Sabbattha atītānāgatapaccuppannaṁ kātabbaṁ.)
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
At Sāvatthī.
“Mendicants, sentient beings join together and converge because of an element: the lazy with the lazy … unmindful … witless … energetic … mindful … wise …”
(Tell all in full for the past, future, and present.)
106. Trú ở Sāvatthī... “Này các Tỳ khưu, các chúng sanh thường giao du, kết hợp theo giới tánh. Những người biếng nhác thường giao du, kết hợp với những người biếng nhác; những người thất niệm thường giao du, kết hợp với những người thất niệm; những người kém trí tuệ thường giao du, kết hợp với những người kém trí tuệ. Những người tinh tấn thường giao du, kết hợp với những người tinh tấn; những người an trú niệm thường giao du, kết hợp với những người an trú niệm; những người có trí tuệ thường giao du, kết hợp với những người có trí tuệ...” Kinh thứ mười hai.
Sattimā sanidānañca, giñjakāvasathena ca; Hīnādhimutti caṅkamaṁ, sagāthā assaddhasattamaṁ.
Bảy, có nguyên nhân, và nhà gạch; Khuynh hướng thấp kém, kinh hành, có kệ ngôn, và thứ bảy là không có đức tin.
Assaddhamūlakā pañca, Cattāro ahirikamūlakā; Anottappamūlakā tīṇi, Duve appassutena ca.
Năm kinh căn bản về không có đức tin, bốn kinh căn bản về không có hổ thẹn; Ba kinh căn bản về không ghê sợ tội lỗi, và hai kinh về ít học.
Kusītaṁ ekakaṁ vuttaṁ, Suttantā tīṇi pañcakā; Bāvīsati vuttā suttā, Dutiyo vaggo pavuccatīti.
Một kinh về biếng nhác được nói đến, ba bộ năm kinh; Hai mươi hai kinh được nói đến, phẩm thứ hai được gọi là như vậy.