Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakùta (Linh Thứu).
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 3 Tôn giả Mahāmoggallāna cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 4 Tôn giả Mahà Kassapa cùng với … không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 5 Tôn giả Anuruddha cùng với … không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 6 Tôn giả Puñña Mantāniputta cùng với … bao nhiêu.
Vi-n 7 Tôn giả Upāli cùng với … bao nhiêu.
Vi-n 8 Tôn giả Ānanda cùng với … bao nhiêu.
Vi-n 9 Tôn giả Devadatta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 10 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Sāriputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đại trí tuệ.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Moggallāna cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đại thần thông.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Kassapa cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy chủ trương hạnh đầu đà.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc có thiên nhãn.
Vi-n 14 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Puñña Mantāniputta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc thuyết pháp.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Upāli cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc trì luật.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ānanda cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là bậc đa văn.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Devadatta cùng với một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, tất cả vị Tỷ-kheo ấy là ác dục.
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.
Vi-n 20 Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16.
Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.