- Saṁyutta Nikāya 12.71
- 8. Samaṇabrāhmaṇavagga
Jarāmaraṇasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Jarāmaraṇasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, ở vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Ở đây Thế Tôn…
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết già chết (Jarāmaraṇa), không biết già chết tập khởi, không biết già chết đoạn diệt, không biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn không được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn không được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy không tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết già chết… (như trên)… biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Già Chết
“ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ nappajānanti, jarāmaraṇasamudayaṁ nappajānanti, jarāmaraṇanirodhaṁ nappajānanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti, na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
“Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
71. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn... (nói): “Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri về già-chết, không tuệ tri về sự tập khởi của già-chết, không tuệ tri về sự đoạn diệt của già-chết, không tuệ tri về con đường đưa đến sự đoạn diệt của già-chết, thì này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và các vị ấy cũng không tự mình, ngay trong hiện tại, với thắng trí, chứng ngộ, và an trú vào mục đích của đời sống Sa-môn hay mục đích của đời sống Bà-la-môn.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ pajānanti …pe… paṭipadaṁ pajānanti, te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā, te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
(Suttanto eko.)
Paṭhamaṁ.
There are ascetics and brahmins who do understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
“Còn này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tuệ tri về già-chết... tuệ tri về con đường... thì này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn giữa các Sa-môn, và là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và các vị ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, và an trú vào mục đích của đời sống Sa-môn và mục đích của đời sống Bà-la-môn.” (Một bài kinh). Kinh thứ nhất.