- Saṁyutta Nikāya 12.58
- 6. Dukkhavagga
Bản dịch
SN 12.58 — Kinh Kosambi
Nāmarūpasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, danh sắc được sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm thẳng xuống dưới và đâm ngang ra, tất cả rễ ấy đem lên nhựa sống. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể được đứng vững trong một thời gian dài.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, danh sắc được sanh khởi… (như trên)…
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, danh sắc không có sanh khởi. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có một người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ… (như trên)… Trong tương lai không thể sống lại được.
Vi-n 7 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp kiết sử, danh sắc không có sanh khởi. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.58
- 6. Suffering
Name and Form
8. Kinh Danh Sắc
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Saṁyojaniyesu, bhikkhave, dhammesu assādānupassino viharato nāmarūpassa avakkanti hoti. Nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
At Sāvatthī.
“There are things that tighten the fetters. When you concentrate on the gratification provided by these things, name and form are conceived. Name and form are requirements for the six sense fields. … That is how this entire mass of suffering originates.
58. Tại Sāvatthī... Này các Tỷ kheo, đối với người sống thường xuyên quán thấy vị ngọt trong các pháp thuộc về kiết sử, có sự đi vào của danh sắc. Do danh sắc làm duyên, sáu xứ sanh khởi... ... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahārukkho. Tassa yāni ceva mūlāni adhogamāni, yāni ca tiriyaṅgamāni, sabbāni tāni uddhaṁ ojaṁ abhiharanti. Evañhi so, bhikkhave, mahārukkho tadāhāro tadupādāno ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya.
Evameva kho, bhikkhave, saṁyojaniyesu dhammesu assādānupassino viharato nāmarūpassa avakkanti hoti …pe….
Suppose there was a great tree. And its roots going downwards and across all draw the sap upwards. Fed and fuelled by that, the great tree would stand for a long time.
In the same way, there are things that tighten the fetters. When you concentrate on the gratification provided by these things, name and form are conceived. …
“Này các Tỳ khưu, ví như một cây đại thọ. Những rễ nào của nó đi xuống dưới, và những rễ nào đi ngang, tất cả chúng đều hút chất dinh dưỡng lên trên. Này các Tỳ khưu, như vậy cây đại thọ ấy, với thức ăn đó, với sự chấp thủ đó, có thể tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với người sống quán thấy vị ngọt trong các pháp dẫn đến kiết sử, sự nhập vào của danh sắc xảy ra... cho đến...”
Saṁyojaniyesu, bhikkhave, dhammesu ādīnavānupassino viharato nāmarūpassa avakkanti na hoti. Nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
There are things that tighten the fetters. When you concentrate on the drawbacks of these things, name and form are not conceived. When name and form cease, the six sense fields cease. … That is how this entire mass of suffering ceases.
“Này các Tỳ khưu, đối với người sống quán thấy sự nguy hại trong các pháp dẫn đến kiết sử, sự nhập vào của danh sắc không xảy ra. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt... cho đến... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.”
Seyyathāpi, bhikkhave, mahārukkho. Atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya …pe… āyatiṁ anuppādadhammo.
Evameva kho, bhikkhave, saṁyojaniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato nāmarūpassa avakkanti na hoti. Nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Suppose there was a great tree. Then a person comes along with a spade and basket. … In this way the great tree is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that tighten the fetters. When you concentrate on the drawbacks of these things, name and form are not conceived. When name and form cease, the six sense fields cease. … That is how this entire mass of suffering ceases.”
“Này các Tỳ khưu, ví như một cây đại thọ. Rồi một người mang cuốc và giỏ đến... cho đến... trong tương lai không thể sanh khởi lại được. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với người sống quán thấy sự nguy hại trong các pháp dẫn đến kiết sử, sự nhập vào của danh sắc không xảy ra. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt... cho đến... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.” (Kinh) thứ tám.