- Saṁyutta Nikāya 12.56
- 6. Dukkhavagga
Bản dịch
SN 12.56 — Kinh Suy Xét
Dutiyamahārukkhasutta
Vi-n 1 Trú tại Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, ví như có một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm sâu xuống dưới và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều đem lên nhựa sống cho cây ấy. Này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.
Vi-n 3 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, ví như một cây lớn, có người đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ của cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào cái mương, người ấy nhổ các rễ lớn… (như trên)… hay đổ tro vào dòng nước mạnh cho nước cuốn đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cây lớn ấy, rễ bị cắt đứt, làm thành như thân cây ta-la, làm cho cây ấy không thể tái sanh, trong tương lai không thể sống lại được.
Vi-n 5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.56
- 6. Suffering
A Great Tree (2nd)
6. Kinh Cây Đại Thọ Thứ Hai
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, mahārukkho. Tassa yāni ceva mūlāni adhogamāni, yāni ca tiriyaṅgamāni, sabbāni tāni uddhaṁ ojaṁ abhiharanti. Evañhi so, bhikkhave, mahārukkho tadāhāro tadupādāno ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya.
Evameva kho, bhikkhave, upādāniyesu dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati. Taṇhāpaccayā upādānaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, suppose there was a great tree. And its roots going downwards and across all draw the sap upwards. Fed and fuelled by that, the great tree would stand for a long time.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the gratification provided by these things, your craving grows. Craving is a requirement for grasping. … That is how this entire mass of suffering originates.
56. Tại Sāvatthī... Ví như, này các Tỷ kheo, có một cây đại thọ. Tất cả những rễ của nó, cả những rễ đi xuống và những rễ đi ngang, đều hút nhựa sống lên trên. Như vậy, này các Tỷ kheo, cây đại thọ ấy lấy đó làm vật thực, lấy đó làm chất dinh dưỡng, có thể tồn tại trong một thời gian dài. Cũng thế, này các Tỷ kheo, đối với người sống thường xuyên quán thấy vị ngọt trong các pháp đáng bị chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do ái làm duyên, thủ sanh khởi... ... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahārukkho. Atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṁ ādāya. So taṁ rukkhaṁ mūle chindeyya, mūle chetvā palikhaṇeyya, palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya …pe… nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya. Evañhi so, bhikkhave, mahārukkho ucchinnamūlo assa tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
Evameva kho, bhikkhave, upādāniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Suppose there was a great tree. Then a person comes along with a spade and basket. They’d cut the tree down at the roots, dig them up, and pull them out, down to the fibers and stems. They’d cut the tree apart, cut up the parts, and chop it into splinters. They’d dry the splinters in the wind and sun, burn them with fire, and reduce them to ashes. Then they’d winnow the ashes in a strong wind, or glide them down a swift stream. In this way the great tree is cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future.
In the same way, there are things that fuel grasping. When you concentrate on the drawbacks of these things, your craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.”
Ví như, này các Tỷ kheo, có một cây đại thọ. Rồi một người mang cuốc và giỏ đến. Người ấy chặt cây ấy ở gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đào xung quanh, sau khi đào xung quanh, người ấy nhổ rễ lên... ... hoặc là thả trôi theo dòng sông chảy xiết. Như vậy, này các Tỷ kheo, cây đại thọ ấy sẽ bị cắt tận gốc, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể hiện hữu, không có tính chất sanh khởi trong tương lai. Cũng thế, này các Tỷ kheo, đối với người sống thường xuyên quán thấy sự nguy hại trong các pháp đáng bị chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt, thủ diệt... ... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.